Người chiếm hữu, sử dụng tài sản của bạn không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả tài sản theo khoản 1 Điều 579 Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13), và bạn có quyền đòi lại tài sản từ người đó theo Điều 166 của Bộ luật này. Bài viết phân tích khái niệm, quyền đòi lại tài sản và nghĩa vụ hoàn trả tài sản, hoa lợi, lợi tức.
Khoản 1 Điều 165 Bộ luật Dân sự 2015 liệt kê các trường hợp chiếm hữu có căn cứ pháp luật, gồm: chiếm hữu theo quy định của pháp luật; chiếm hữu theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác; chiếm hữu theo hợp đồng đã được xác lập; chiếm hữu theo quyết định của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật là việc chiếm giữ tài sản của người khác không thuộc trường hợp nào nêu trên, tức người chiếm hữu không có quyền theo pháp luật, theo bản án hoặc theo hợp đồng để chiếm giữ tài sản đó.
Ví dụ: người mua nhà, đất bằng giấy viết tay chưa sang tên nhưng giữ luôn không trả; người thuê nhà hết hạn hợp đồng vẫn tiếp tục ở; người giữ tiền, giấy tờ có giá của người khác khi không còn căn cứ pháp lý.
Pháp luật phân biệt chiếm hữu ngay tình và không ngay tình: theo Điều 180 Bộ luật Dân sự 2015, người chiếm hữu ngay tình là người không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản là không có căn cứ pháp luật. Việc xác định ngay tình hay không quyết định nghĩa vụ hoàn trả hoa lợi, lợi tức ở phần dưới.
Theo Điều 163 Bộ luật Dân sự 2015, tài sản gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Quyền đòi lại tài sản vì thế áp dụng với cả nhà, đất, xe lẫn tiền, cổ phiếu, quyền tài sản.
Khoản 1 Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015 quy định chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Khoản 3 Điều 166 cũng trao quyền tương tự cho chủ thể có quyền khác đối với tài sản, ví dụ người nhận cầm cố, người nhận ký gửi.
Trên thực tế, khó khăn nhất là chứng minh quyền sở hữu và chứng minh việc chiếm hữu không có căn cứ pháp luật, nên chủ sở hữu cần thu thập giấy tờ, hình ảnh, tin nhắn ngay khi phát hiện tài sản bị chiếm giữ.
Khoản 1 Điều 579 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản của người khác thì phải hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 247.
Nghĩa vụ hoàn trả phát sinh độc lập với ý chí người chiếm hữu: dù ngay tình hay không ngay tình, người chiếm hữu vẫn phải trả lại tài sản, trừ trường hợp xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu tại Điều 247. Khoản 2 Điều 579 quy định hoàn trả bằng hiện vật; nếu tài sản không còn hoặc bị hư hỏng thì đền bù bằng tiền theo giá trị.
Người đang chiếm giữ tài sản của người khác không nên tự ý bán, phá hủy hoặc làm hư hỏng tài sản, vì hậu quả bồi thường có thể lớn hơn việc tự nguyện hoàn trả. Nếu tài sản đã được trả lại đầy đủ, hai bên nên lập văn bản xác nhận bàn giao để tránh tranh chấp sau này.
Theo Điều 109 Bộ luật Dân sự 2015, hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại (như trái cây từ vườn cây), còn lợi tức là khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản (như tiền thuê nhà, lãi tiền gửi).
Điều 580 Bộ luật Dân sự 2015 quy định nguyên tắc hoàn trả hoa lợi, lợi tức: người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình thì không phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ việc khai thác, sử dụng tài sản. Ngược lại, người không ngay tình phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được kể từ thời điểm họ biết hoặc phải biết việc chiếm hữu, sử dụng tài sản là không có căn cứ pháp luật.
Ví dụ: A chiếm giữ căn nhà của B và cho thuê thu được 10 triệu đồng mỗi tháng. Nếu A biết ngôi nhà thuộc về B thì phải hoàn trả số tiền thuê đã thu theo Điều 580; nếu A không biết và không thể biết việc chiếm hữu là trái pháp luật thì không phải hoàn trả, nhưng vẫn phải trả lại nhà theo Điều 579.
Do đó, khi đòi lại tài sản có khả năng sinh lời, chủ sở hữu cần xác định người chiếm hữu ngay tình hay không để xác định phạm vi yêu cầu hoàn trả.
Khi người chiếm hữu không tự nguyện hoàn trả dù đã được yêu cầu, chủ sở hữu có quyền khởi kiện ra Tòa án để bảo vệ quyền lợi. Thủ tục khởi kiện dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng; tham khảo bài viết khởi kiện dân sự để nắm các bước.
Hồ sơ khởi kiện thường gồm: đơn khởi kiện; giấy tờ chứng minh quyền sở hữu; chứng cứ về việc chiếm hữu không có căn cứ pháp luật; giấy tờ tùy thân của các bên.
Điểm a khoản 1 Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu không áp dụng đối với yêu cầu đòi lại tài sản thuộc sở hữu của mình từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật. Nghĩa là yêu cầu đòi lại tài sản không bị giới hạn bởi thời hiệu khởi kiện nêu tại Điều 184.
Không nên chủ quan trì hoãn: khoản 1 Điều 247 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người chiếm hữu ngay tình, công khai, liên tục một động sản không phải đăng ký quyền sở hữu trong 10 năm thì xác lập quyền sở hữu. Với xe máy mua giấy tay, vật dụng gia đình, nếu để lâu dài, bạn có thể mất quyền sở hữu.
Với các yêu cầu khác như bồi thường thiệt hại do tài sản bị hư hỏng trong thời gian bị chiếm hữu, thời hiệu khởi kiện là 03 năm theo Điều 184. Xem thêm thời hiệu khởi kiện hợp đồng.
Một số lưu ý thực tế khi đòi lại tài sản:
Là việc chiếm giữ tài sản của người khác không thuộc các trường hợp chiếm hữu có căn cứ pháp luật nêu tại khoản 1 Điều 165 Bộ luật Dân sự 2015.
Có. Khoản 1 Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015 cho phép chủ sở hữu đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, sử dụng không có căn cứ pháp luật.
Tùy vào ngay tình hay không ngay tình. Theo Điều 580 Bộ luật Dân sự 2015, người chiếm hữu ngay tình không phải hoàn trả; người không ngay tình phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được.
Không. Theo điểm a khoản 1 Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu không áp dụng đối với yêu cầu đòi lại tài sản thuộc sở hữu của mình từ người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.
Bị hạn chế theo Điều 166, 167 Bộ luật Dân sự 2015 tùy loại tài sản và tính ngay tình của người nhận; cần luật sư đánh giá hồ sơ cụ thể.
Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.