Điều 357 BLDS 2015: Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 357 BLDS 2015: Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền

dan-su · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/08
Mục lục:
  1. Nội dung Điều 357
  2. Cách tính lãi chậm trả và lãi quá hạn
  3. Thỏa thuận lãi suất và hạn chế tại Điều 468
  4. Thực tiễn tranh chấp vay nợ
  5. Lưu ý chứng cứ chứng minh

Điều 357. Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền 1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. 2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Nội dung Điều 357

Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015 quy định trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Nội dung chính: bên có nghĩa vụ trả tiền nhưng trả chậm phải trả lãi đối với số tiền chậm trả, tương ứng thời gian chậm trả.

Khoản 1 Điều 357 xác định căn cứ phát sinh trách nhiệm: có nghĩa vụ trả tiền, đến hạn phải trả, nhưng bên có nghĩa vụ không trả hoặc trả không đầy đủ. Khi đó, khoản tiền chậm trả tự phát sinh lãi chậm trả. Đây là trách nhiệm dân sự độc lập, nhằm bù đắp thiệt hại do bên có quyền không được sử dụng tiền đúng hạn.

Khoản 2 Điều 357 quy định cách xác định lãi suất. Trước hết, áp dụng theo thỏa thuận của các bên. Tuy nhiên, mức thỏa thuận không được vượt quá giới hạn tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, tức không quá 20%/năm của khoản tiền liên quan, trừ trường hợp luật khác có quy định khác. Nếu các bên không có thỏa thuận về lãi chậm trả, áp dụng khoản 2 Điều 468; mức lãi suất được xác định bằng 50% mức giới hạn tại khoản 1 Điều 468, tương ứng 10%/năm.

Ví dụ: A phải thanh toán cho B 100.000.000 đồng vào ngày 01/6 nhưng đến ngày 01/9 mới trả. Thời gian chậm trả là 03 tháng. Nếu hợp đồng có thỏa thuận lãi chậm trả 12%/năm, mức này không vượt trần Điều 468 nên được áp dụng. Tiền lãi chậm trả tính trên 100.000.000 đồng trong 03 tháng. Nếu hợp đồng không thỏa thuận lãi chậm trả, mức 10%/năm theo khoản 2 Điều 468 được dùng để tính.

Như vậy, Điều 357 bảo vệ bên có quyền nhận tiền, đồng thời giới hạn lãi suất để ngăn việc áp đặt mức lãi quá cao, trái quy định pháp luật.

2. Cách tính lãi chậm trả và lãi quá hạn

Cách tính lãi chậm trả và lãi quá hạn

Theo Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015, bên có nghĩa vụ trả tiền mà chậm trả thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả, tương ứng với thời gian chậm trả. Nếu các bên không có thỏa thuận khác thì lãi suất được xác định theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015. Điểm cốt lõi: muốn tính đúng phải xác định đủ 3 yếu tố: số tiền chậm trả, thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng.

Công thức thực tế thường dùng: Lãi chậm trả = Số tiền chậm trả x lãi suất năm x thời gian chậm trả thực tế/365 ngày. Trường hợp không có thỏa thuận về lãi suất chậm trả, có thể căn cứ khoản 2 Điều 468 để xác định mức lãi suất mặc định. Trường hợp có thỏa thuận, việc áp dụng thỏa thuận vẫn phải phù hợp giới hạn lãi suất tại Điều 468.

“Lãi chậm trả” cần phân biệt với “lãi quá hạn”. Lãi chậm trả là hậu quả pháp lý phát sinh do vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo Điều 357. Còn lãi quá hạn thường là mức lãi các bên đã dự liệu cho khoản nợ đến hạn nhưng không được thanh toán đúng hạn. Vì vậy, muốn tính lãi quá hạn phải kiểm tra trước hợp đồng có điều khoản về lãi suất, thời điểm chuyển quá hạn, cách tính lãi hay không. Nếu hợp đồng không quy định rõ, việc yêu cầu lãi thường quay về căn cứ chung của Điều 357 và Điều 468.

Ví dụ: A phải thanh toán cho B 100.000.000 đồng ngày 01/3, nhưng đến 30/4 mới trả. Thời gian chậm trả là 60 ngày. Nếu không có thỏa thuận khác về lãi suất, lãi chậm trả được tính trên 100.000.000 đồng trong 60 ngày theo mức lãi suất xác định theo khoản 2 Điều 468. Nếu hợp đồng có quy định riêng về lãi quá hạn và thỏa thuận đó không trái Điều 468 thì ưu tiên áp dụng thỏa thuận.

Do đó, khi xác định khoản lãi phải trả, cần đọc đồng thời Điều 357 và Điều 468: Điều 357 xác lập trách nhiệm trả lãi do chậm trả; Điều 468 là căn cứ để xác định mức lãi suất áp dụng.

3. Thỏa thuận lãi suất và hạn chế tại Điều 468

Thỏa thuận lãi suất là căn cứ quan trọng khi xác định trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015. Khi bên có nghĩa vụ trả tiền chậm thanh toán, bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 đặt giới hạn cho quyền tự do thỏa thuận về lãi suất. Các bên được quyền thỏa thuận lãi suất, nhưng mức lãi suất không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Nếu thỏa thuận vượt quá giới hạn này, phần lãi suất vượt quá không có hiệu lực. Đây là giới hạn pháp lý nhằm bảo vệ bên yếu thế, ngăn ngừa lãi suất bất hợp lý, bảo đảm nguyên tắc tự do thỏa thuận nhưng không trái luật.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi khi chậm trả, Tòa án thường xem xét thỏa thuận đó trước. Tuy nhiên, nếu mức lãi chậm trả được xác định theo lãi vay hoặc gắn với khoản tiền phải trả mà vượt giới hạn Điều 468, phần vượt quá có thể không được chấp nhận. Trường hợp không có thỏa thuận rõ về lãi suất, khoản lãi do chậm trả được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 468, tức bằng 50% mức lãi suất giới hạn nêu trên tại thời điểm trả nợ.

Ví dụ: A phải trả cho B 200.000.000 đồng vào ngày 01/3 nhưng đến 01/9 mới thanh toán. Hợp đồng ghi lãi chậm trả 30%/năm. Khi phát sinh tranh chấp, phần lãi vượt quá mức 20%/năm theo Điều 468 có nguy cơ không được công nhận. Nếu hợp đồng không ghi lãi suất chậm trả, B vẫn có quyền yêu cầu lãi chậm trả theo Điều 357, mức tính căn cứ khoản 2 Điều 468.

4. Thực tiễn tranh chấp vay nợ

Trong thực tiễn tranh chấp vay nợ, mâu thuẫn thường phát sinh ở 3 điểm: xác định thời điểm đến hạn trả nợ, căn cứ tính lãi chậm trả, giới hạn lãi suất theo thỏa thuận. Khi bên vay đã đến hạn mà không trả hoặc trả không đầy đủ, đây là hành vi chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Khi đó, trách nhiệm dân sự không chỉ dừng ở việc hoàn trả nợ gốc, mà còn phát sinh nghĩa vụ trả lãi đối với khoản tiền chậm trả theo Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015.

Điều 357 quy định: bên có nghĩa vụ chậm trả tiền phải trả lãi đối với số tiền chậm trả, tương ứng với thời gian chậm trả; nếu không có thỏa thuận khác thì lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015. Vì vậy, trong tranh chấp vay nợ, Tòa án thường tách rõ 2 loại nghĩa vụ: lãi trong hạn theo thỏa thuận vay; lãi do chậm trả sau thời điểm vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Đây là điểm rất quan trọng vì nhiều bên cho vay thường gộp chung các khoản lãi, dẫn đến yêu cầu vượt quá căn cứ pháp luật.

Ví dụ thực tiễn: A vay của B 500 triệu đồng, có giấy vay, thỏa thuận thời hạn 06 tháng, có lãi. Đến hạn, A không trả. Trường hợp này, B có quyền yêu cầu A thanh toán nợ gốc, lãi theo thỏa thuận hợp pháp trong thời hạn vay, đồng thời yêu cầu lãi chậm trả đối với khoản tiền chưa thanh toán kể từ ngày đến hạn. Nếu thỏa thuận lãi suất vượt mức luật cho phép thì phần vượt không được chấp nhận; việc xác định lãi suất phải đối chiếu Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

Thực tiễn cũng cho thấy, bên cho vay muốn bảo vệ quyền lợi cần lưu giữ đầy đủ giấy vay tiền, chứng từ giao nhận tiền, tin nhắn xác nhận nợ, cam kết gia hạn, tài liệu thể hiện thời điểm đến hạn. Đây là căn cứ quan trọng để chứng minh số tiền nợ, thời gian chậm trả, phạm vi lãi được yêu cầu theo Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

5. Lưu ý chứng cứ chứng minh

Lưu ý chứng cứ chứng minh

Khi yêu cầu trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015, bên yêu cầu cần chứng minh đủ ba nhóm vấn đề: có nghĩa vụ trả tiền, nghĩa vụ đã đến hạn, bên có nghĩa vụ chậm trả. Thiếu một nhóm chứng cứ, yêu cầu tiền lãi chậm trả dễ bị bác hoặc bị giảm.

Chứng cứ về nghĩa vụ trả tiền gồm hợp đồng, phụ lục, biên bản đối chiếu công nợ, hóa đơn, phiếu giao hàng, biên bản nghiệm thu, giấy vay tiền, sao kê chuyển khoản, tin nhắn hoặc email xác nhận nợ. Ví dụ: bên bán đã giao hàng, có biên bản nghiệm thu, hóa đơn, công nợ được xác nhận; đây là cơ sở chứng minh khoản tiền phải thanh toán.

Chứng cứ về thời hạn trả tiền rất quan trọng. Cần xuất trình điều khoản thanh toán, lịch trả nợ, thông báo đến hạn, biên bản gia hạn, email chốt hạn thanh toán. Nếu hợp đồng ghi “thanh toán trong 07 ngày từ ngày nghiệm thu”, cần kèm biên bản nghiệm thu để xác định ngày bắt đầu tính hạn. Ngày quá hạn là căn cứ tính thời gian chậm trả theo Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015.

Chứng cứ về lãi suất cần tách rõ lãi theo thỏa thuận và lãi do chậm trả. Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015 xác định bên chậm trả phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng thời gian chậm trả; lãi suất thực hiện theo thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận thì theo Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015. Vì vậy, cần nộp điều khoản lãi suất, phụ lục, xác nhận công nợ có ghi lãi, hoặc bảng tính lãi.

Bảng tính nên thể hiện: số tiền gốc chậm trả, ngày đến hạn, ngày thanh toán thực tế hoặc ngày khởi kiện, số ngày chậm trả, mức lãi suất áp dụng, tổng tiền lãi. Ví dụ: nợ gốc 200 triệu đồng, đến hạn ngày 01/3 nhưng trả ngày 01/6; thời gian chậm trả là căn cứ trực tiếp để tính lãi chậm trả.

Cần lưu bản gốc hoặc bản sao hợp lệ. Dữ liệu điện tử nên kèm nguồn gửi, thời điểm gửi, người gửi, nội dung xác nhận. Chứng cứ càng rõ về hạn trả và số tiền còn nợ, yêu cầu theo Điều 357 càng vững.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13) - Điều 357 về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền
  • Bộ luật Dân sự 2015 - Điều 468 về lãi suất
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp