Điều 274 BLDS 2015: Nghĩa vụ dân sự | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 274 BLDS 2015: Nghĩa vụ dân sự

dan-su · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/08
Mục lục:
  1. Khái niệm nghĩa vụ dân sự
  2. Các hình thức nghĩa vụ
  3. Nghĩa vụ liên đới và nghĩa vụ riêng
  4. Thực hiện nghĩa vụ theo phần
  5. Mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền yêu cầu

Điều 274. Kiểm tra đơn kháng cáo 1. Sau khi nhận được đơn kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm phải kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo theo quy định tại Điều 272 của Bộ luật này. 2. Trường hợp đơn kháng cáo quá hạn thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo trình bày rõ lý do và xuất trình tài liệu, chứng cứ (nếu có) để chứng minh lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn là chính đáng. 3. Trường hợp đơn kháng cáo chưa đúng quy định tại Điều 272 của Bộ luật này thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo làm lại hoặc sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo. 4. Tòa án trả lại đơn kháng cáo trong các trường hợp sau đây: a) Người kháng cáo không có quyền kháng cáo; b) Người kháng cáo không làm lại đơn kháng cáo hoặc không sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo theo yêu cầu của Tòa án quy định tại khoản 3 Điều này. c) Trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 276 của Bộ luật này.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Khái niệm nghĩa vụ dân sự

Khái niệm nghĩa vụ dân sự được quy định tại Điều 274 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, nghĩa vụ là việc một hoặc nhiều chủ thể, gọi là bên có nghĩa vụ, phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác, gọi là bên có quyền.

Từ quy định này, nghĩa vụ dân sự là quan hệ pháp lý có tính ràng buộc giữa ít nhất hai bên: bên có quyền và bên có nghĩa vụ. Nội dung nghĩa vụ có thể là hành vi tích cực, như giao tài sản, trả tiền, làm một công việc; hoặc hành vi tiêu cực, như không thực hiện một công việc nhất định. Điểm cốt lõi: hành vi của bên có nghĩa vụ phải nhằm đáp ứng lợi ích hợp pháp của bên có quyền.

Ví dụ: trong hợp đồng mua bán xe máy, bên bán có nghĩa vụ giao xe, chuyển giao giấy tờ liên quan; bên mua có nghĩa vụ trả tiền. Nếu bên mua chậm thanh toán, nghĩa vụ trả tiền phải được xem xét theo Điều 280 Bộ luật Dân sự 2015: nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm, đúng phương thức đã thỏa thuận; nghĩa vụ trả tiền còn bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Nghĩa vụ dân sự cũng gắn với nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận tại Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015. Cam kết hợp pháp có hiệu lực đối với các bên, phải được tôn trọng. Bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ phải tự chịu trách nhiệm. Vì vậy, khi xác lập giao dịch dân sự, các bên cần ghi rõ đối tượng, thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện nghĩa vụ, hậu quả khi vi phạm.

2. Các hình thức nghĩa vụ

Theo Điều 274 Bộ luật Dân sự 2015, nghĩa vụ dân sự là việc một hoặc nhiều chủ thể phải thực hiện lợi ích cho một hoặc nhiều chủ thể khác. Từ quy định này, có thể nhận diện các hình thức nghĩa vụ cơ bản theo chính nội dung phải thực hiện.

Thứ nhất, nghĩa vụ chuyển giao vật. Bên có nghĩa vụ phải giao tài sản đúng đối tượng đã cam kết. Ví dụ thực tiễn: bên bán phải giao chiếc xe, lô hàng, máy móc cho bên mua theo thỏa thuận. Hình thức này gắn trực tiếp với việc dịch chuyển tài sản từ người có nghĩa vụ sang người có quyền.

Thứ hai, nghĩa vụ chuyển giao quyền. Đối tượng thực hiện không phải vật hữu hình mà là quyền tài sản hoặc quyền dân sự nhất định. Ví dụ: chuyển giao quyền đòi nợ, quyền khai thác một tài sản, quyền phát sinh từ hợp đồng. Điểm cần lưu ý: nội dung nghĩa vụ ở đây là làm phát sinh sự dịch chuyển về mặt pháp lý của quyền.

Thứ ba, nghĩa vụ trả tiền. Đây là hình thức phổ biến nhất trong giao dịch dân sự. Điều 280 Bộ luật Dân sự 2015 điều chỉnh trực tiếp việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền, nên bên có nghĩa vụ phải thanh toán đúng số tiền, đúng thời hạn, đúng địa điểm theo cam kết hoặc theo quy định pháp luật. Ví dụ: bên vay đến hạn phải hoàn trả tiền vay; bên mua hàng phải thanh toán đủ giá trị hàng hóa. Trong thực tiễn, tranh chấp dân sự phát sinh rất nhiều từ việc chậm trả, trả không đủ hoặc không trả tiền.

Thứ tư, nghĩa vụ thực hiện công việc. Bên có nghĩa vụ phải làm một công việc nhất định vì lợi ích của bên có quyền. Ví dụ: sửa chữa nhà, vận chuyển tài sản, thực hiện dịch vụ theo hợp đồng.

Thứ năm, nghĩa vụ không được thực hiện công việc. Đây là nghĩa vụ kiềm chế hành vi. Ví dụ: một bên cam kết không xây dựng lấn sang phần đất liền kề, không tiết lộ thông tin thuộc phạm vi đã thỏa thuận.

Tóm lại, Điều 274 cho thấy nghĩa vụ dân sự không chỉ là trả tiền, mà bao quát cả chuyển giao vật, chuyển giao quyền, thực hiện công việc và không thực hiện công việc. Điều 280 là căn cứ cụ thể hóa riêng đối với nghĩa vụ trả tiền.

3. Nghĩa vụ liên đới và nghĩa vụ riêng

Nghĩa vụ liên đới và nghĩa vụ riêng cần được hiểu từ bản chất của nghĩa vụ dân sự: theo Điều 274 Bộ luật Dân sự 2015, nghĩa vụ là việc một hoặc nhiều chủ thể phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền, giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không thực hiện công việc vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác.

Nghĩa vụ riêng phát sinh khi từng người có nghĩa vụ chỉ phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình. Chủ thể có quyền chỉ được yêu cầu đúng người đó thực hiện đúng phần tương ứng. Ví dụ: ba người cùng thuê một mặt bằng, hợp đồng ghi rõ mỗi người trả 10 triệu đồng/tháng. Khi một người không trả, bên cho thuê chỉ yêu cầu người đó thanh toán phần 10 triệu đồng, nếu hợp đồng không xác lập trách nhiệm chung cho toàn bộ khoản thuê.

Nghĩa vụ liên đới đặt ra khi nhiều người cùng phải chịu trách nhiệm đối với cùng một nghĩa vụ. Khi đó, chủ thể có quyền có thể yêu cầu một, một số hoặc tất cả người có nghĩa vụ thực hiện toàn bộ nghĩa vụ, tùy căn cứ xác lập trong thỏa thuận hoặc quy định pháp luật áp dụng. Ví dụ: hai người cùng ký hợp đồng vay, cam kết cùng chịu trách nhiệm trả toàn bộ khoản nợ. Khi đến hạn, bên cho vay có thể yêu cầu một người trả toàn bộ số tiền; người đã trả sau đó xử lý phần hoàn trả nội bộ với người còn lại theo thỏa thuận.

Đối với nghĩa vụ trả tiền, Điều 280 Bộ luật Dân sự 2015 là căn cứ trực tiếp: bên có nghĩa vụ phải trả tiền đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm, đúng phương thức đã thỏa thuận. Vì vậy, trong thực tiễn, hợp đồng cần ghi rõ nghĩa vụ là riêng hay liên đới; tỷ lệ nghĩa vụ; thời hạn trả; tài khoản nhận tiền; hậu quả chậm trả. Thiếu ghi nhận rõ, tranh chấp thường tập trung vào việc ai phải trả, trả bao nhiêu, trả thay có được hoàn lại hay không.

4. Thực hiện nghĩa vụ theo phần

“Thực hiện nghĩa vụ theo phần” là việc bên có nghĩa vụ thực hiện từng phần công việc, từng phần tài sản hoặc từng đợt thanh toán thay vì thực hiện một lần toàn bộ. Cơ sở đặt ra từ khái niệm nghĩa vụ tại Điều 274 Bộ luật Dân sự 2015: một bên phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền, giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc vì lợi ích của bên có quyền. Từ đó, nếu đối tượng nghĩa vụ có thể chia được hoặc các bên có thỏa thuận chia thành nhiều phần, nghĩa vụ có thể được thực hiện theo từng phần.

Tuy nhiên, thực hiện theo phần không đồng nghĩa được tự ý chia nhỏ nghĩa vụ. Nguyên tắc là phải căn cứ vào thỏa thuận, bản chất của đối tượng nghĩa vụ, khả năng tách biệt từng phần và quyền lợi của bên có quyền. Nếu việc chia phần làm thay đổi bản chất nghĩa vụ, làm giảm giá trị tài sản, làm mất mục đích giao kết hoặc gây bất lợi cho bên có quyền thì không nên hiểu là bên có nghĩa vụ được đơn phương thực hiện từng phần.

Đối với nghĩa vụ trả tiền, Điều 280 Bộ luật Dân sự 2015 là căn cứ trực tiếp. Nếu các bên thỏa thuận trả tiền nhiều đợt, mỗi đợt là một phần nghĩa vụ độc lập về thời điểm đến hạn. Khi đó, bên có nghĩa vụ phải thanh toán đúng số tiền của từng đợt, đúng thời hạn và theo phương thức đã xác lập. Việc đã trả một phần không làm chấm dứt toàn bộ nghĩa vụ; phần còn lại vẫn phải tiếp tục thực hiện đầy đủ.

Ví dụ thực tiễn: A mua máy móc của B, giá 300 triệu đồng, thỏa thuận thanh toán 3 đợt, mỗi đợt 100 triệu đồng. Đây là trường hợp thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo phần. Nếu A đã trả 2 đợt đúng hạn thì nghĩa vụ chỉ chấm dứt đối với 200 triệu đồng đã thanh toán; 100 triệu đồng còn lại vẫn là nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện theo Điều 280. Ngược lại, nếu hợp đồng không cho phép chia phần mà A tự ý trả nhỏ giọt, B có căn cứ từ chối nhận nếu việc đó trái thỏa thuận hoặc ảnh hưởng quyền lợi hợp pháp của B.

5. Mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền yêu cầu

Mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền yêu cầu

Theo Điều 274 Bộ luật Dân sự 2015, nghĩa vụ dân sự là việc bên có nghĩa vụ phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của bên có quyền. Quy định này cho thấy nghĩa vụ và quyền yêu cầu tồn tại tương ứng: một bên phải thực hiện hành vi pháp lý nhất định, bên còn lại có quyền yêu cầu hành vi đó được thực hiện đúng nội dung đã phát sinh.

Quyền yêu cầu là mặt đối ứng của nghĩa vụ. Không có nghĩa vụ thì không có căn cứ để yêu cầu; ngược lại, quyền yêu cầu chỉ có ý nghĩa thực tế khi xác định được chủ thể có nghĩa vụ, nội dung phải thực hiện, thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện. Ví dụ, trong hợp đồng vay tiền, bên vay có nghĩa vụ trả tiền; bên cho vay có quyền yêu cầu trả nợ. Nội dung yêu cầu không thể vượt quá nghĩa vụ đã được xác lập hợp pháp.

Điều 280 Bộ luật Dân sự 2015 cụ thể hóa mối quan hệ này đối với nghĩa vụ trả tiền. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm, đúng phương thức đã thỏa thuận. Nghĩa vụ trả tiền còn bao gồm tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Do đó, nếu bên vay đến hạn không trả, bên cho vay có quyền yêu cầu trả đủ nợ gốc, lãi nếu có căn cứ, đúng theo thỏa thuận hoặc quy định pháp luật.

Thực tiễn: A bán hàng cho B, thỏa thuận B thanh toán 100 triệu đồng trong 30 ngày. Khi hết hạn, B chưa trả. Khi đó, nghĩa vụ trả tiền của B phát sinh trách nhiệm thực hiện; quyền yêu cầu của A trở thành cơ sở để đòi thanh toán. Quan hệ này bảo đảm cân bằng lợi ích, buộc bên có nghĩa vụ thiện chí thực hiện cam kết, bảo vệ bên có quyền khi quyền dân sự bị vi phạm.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13) - Điều 274 về nghĩa vụ
  • Bộ luật Dân sự 2015 - Điều 280 về thực hiện nghĩa vụ trả tiền
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp