Tuyên bố một người mất tích: điều kiện, thủ tục và hệ quả | Công ty Luật Minh Bạch

Tuyên bố một người mất tích: điều kiện, thủ tục và hệ quả pháp lý

Dân sự · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/08
Mục lục:
  1. Tuyên bố mất tích là gì
  2. Điều kiện để được tuyên bố mất tích
  3. Hồ sơ, thủ tục yêu cầu Tòa án
  4. Hệ quả pháp lý khi có quyết định tuyên bố mất tích
  5. Quản lý tài sản của người mất tích
  6. Hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích

Tuyên bố mất tích là một thủ tục dân sự do Tòa án nhân dân giải quyết theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, áp dụng khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc còn sống hay đã chết (Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015, số 91/2015/QH13, hiệu lực 01/01/2017).

1. Tuyên bố mất tích là gì

Tuyên bố mất tích là chế định pháp lý nhằm xác lập một tình trạng pháp lý rõ ràng cho người biệt tích lâu ngày, để người thân, người có quyền lợi liên quan có thể giải quyết các quan hệ về hôn nhân, tài sản và nghĩa vụ dân sự. Đây không phải là tuyên bố một người đã chết: quyết định tuyên bố mất tích chỉ xác lập căn cứ pháp lý để giải quyết quan hệ dân sự của người đó, trong khi quyết định tuyên bố chết mới chấm dứt quan hệ nhân thân, tài sản và mở thừa kế (Điều 71 Bộ luật Dân sự 2015).

Việc tuyên bố mất tích do Tòa án thực hiện theo thủ tục giải quyết việc dân sự, không phải thủ tục khởi kiện vụ án tranh chấp. Yêu cầu tuyên bố mất tích không giới hạn thời hiệu yêu cầu, theo tinh thần quy định chung về thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (các yêu cầu không phải trả đơn, không phụ thuộc thời hiệu nếu luật không quy định cụ thể), nên người có quyền lợi vẫn có thể nộp đơn yêu cầu khi hội tụ đủ điều kiện, kể cả sau nhiều năm biệt tích.

2. Điều kiện để được tuyên bố mất tích

Theo khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015, ba điều kiện cộng dồn gồm: (i) người đó biệt tích 02 năm liền trở lên; (ii) đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; (iii) vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết.

Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày thì tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được cả tháng, năm thì tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng. Người yêu cầu chỉ cần chứng minh đã thực hiện các biện pháp thông báo tìm kiếm như công bố trên phương tiện thông tin đại chúng, thông báo tại nơi cư trú, hoặc yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo Điều 64 Bộ luật Dân sự 2015.

Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo pháp luật về hôn nhân và gia đình (khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015). Quyết định tuyên bố mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng để ghi chú theo quy định pháp luật về hộ tịch (khoản 3 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015).

3. Hồ sơ, thủ tục yêu cầu Tòa án

Thủ tục yêu cầu tuyên bố mất tích được quy định tại các điều 387, 388, 389, 390 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 — số điều này giữ nguyên qua các lần sửa đổi và vẫn được áp dụng theo bản văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH ngày 24/2/2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung bởi nhiều luật, trong đó Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025, hiệu lực 01/7/2025, chủ yếu sửa thẩm quyền theo tổ chức Tòa án nhân dân, không thay đổi các điều về mất tích).

Thẩm quyền Tòa án

Tòa án nơi người bị yêu cầu tuyên bố mất tích có nơi cư trú cuối cùng có thẩm quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, quản lý tài sản và yêu cầu tuyên bố một người mất tích (điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015); Tòa án đã ra quyết định tuyên bố mất tích có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy bỏ quyết định đó.

Hồ sơ yêu cầu

Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích; tài liệu, chứng cứ chứng minh người bị yêu cầu đã biệt tích 02 năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc còn sống hay đã chết; chứng cứ chứng minh đã áp dụng đầy đủ biện pháp thông báo tìm kiếm; bản sao quyết định của Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú nếu trước đó đã có (khoản 2 Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).

Trình tự, thời hạn

Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích; thời hạn thông báo là 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên (Điều 388). Nếu trong thời hạn thông báo người đó trở về và yêu cầu đình chỉ xét đơn thì Tòa án ra quyết định đình chỉ. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn thông báo, Tòa án mở phiên họp xét đơn yêu cầu. Trường hợp chấp nhận đơn, Tòa án ra quyết định tuyên bố một người mất tích và có thể đồng thời quyết định áp dụng biện pháp quản lý tài sản nếu có yêu cầu (Điều 389). Toàn bộ quá trình thường mất khoảng 05 tháng kể từ khi nộp đơn nếu đơn yêu cầu được chấp nhận.

Quyết định của Tòa án về việc giải quyết việc dân sự có thể bị kháng cáo, kháng nghị; việc nộp đơn yêu cầu tuyên bố mất tích có thể được thực hiện trên môi trường số theo Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp trên môi trường số tại Tòa án nhân dân (nộp đơn khởi kiện, đơn yêu cầu qua Hệ thống dịch vụ công Tòa án hoặc Cổng Dịch vụ công quốc gia).

4. Hệ quả pháp lý khi có quyết định tuyên bố mất tích

Quyết định tuyên bố mất tích cho phép giải quyết các quan hệ hôn nhân và tài sản của người mất tích: vợ hoặc chồng có thể ly hôn, người quản lý tài sản được xác định, các giao dịch và nghĩa vụ của người mất tích được xử lý theo một trật tự pháp lý rõ ràng.

Hệ quả quan trọng thứ hai: người mất tích có tài sản cần người quản lý, và các nghĩa vụ tài sản phát sinh từ trước vẫn được thực hiện từ tài sản của người đó thông qua người quản lý tài sản. Tuy nhiên, quyết định tuyên bố mất tích chưa mở thừa kế: người thân chỉ được chia di sản sau khi có quyết định tuyên bố chết theo Điều 71 Bộ luật Dân sự 2015 (03 năm sau quyết định tuyên bố mất tích mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, hoặc trong các trường hợp biệt tích khác).

Hệ quả thứ ba về hôn nhân: khi vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn, Tòa án giải quyết cho ly hôn; nếu sau đó người mất tích trở về thì quyết định ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật (khoản 3 Điều 70 Bộ luật Dân sự 2015). Việc ghi chú quyết định tuyên bố mất tích được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng theo quy định pháp luật về hộ tịch.

5. Quản lý tài sản của người mất tích

Người đang quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú theo Điều 65 hợp nhất tiếp tục quản lý tài sản khi người đó bị tuyên bố mất tích, với các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 66, Điều 67 Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 69).

Người quản lý tài sản được xác định lần lượt: người được ủy quyền quản lý (nếu có); chủ sở hữu chung còn lại đối với tài sản chung; vợ hoặc chồng nếu đang quản lý; trường hợp vợ hoặc chồng chết hoặc mất năng lực hành vi thì con thành niên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lý; nếu không có những người trên thì Tòa án chỉ định người thân thích, và cuối cùng chỉ định người khác nếu không có người thân thích (Điều 65).

Khi Tòa án giải quyết cho vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích ly hôn, tài sản của người mất tích được giao cho con thành niên hoặc cha, mẹ quản lý; nếu không có những người này thì giao cho người thân thích; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý (Điều 69 Bộ luật Dân sự 2015). Người quản lý tài sản có nghĩa vụ bảo quản, thực hiện nghĩa vụ dân sự phát sinh từ việc quản lý, giao lại tài sản khi người mất tích trở về và được thanh toán chi phí hợp lý; việc định đoạt tài sản có giá trị lớn phải được sự đồng ý của Tòa án theo quy định tại Điều 67.

Về hiệu lực của các giao dịch và thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm liên quan đến tài sản của người mất tích, pháp luật hiện hành không quy định quyết định tuyên bố mất tích làm đương nhiên hủy bỏ biện pháp bảo đảm đã đăng ký. Trên thực tế, chủ nợ có tài sản bảo đảm vẫn được xử lý tài sản theo Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, còn khoản nợ của người mất tích được thanh toán từ tài sản do người quản lý điều hành. Mức độ xác thực của nhận định này phụ thuộc hồ sơ cụ thể nên cần luật sư rà soát cho từng vụ việc.

6. Hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích

Khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống, theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích (khoản 1 Điều 70 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 390 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).

Người bị tuyên bố mất tích trở về được nhận lại tài sản do người quản lý tài sản chuyển giao sau khi đã thanh toán chi phí quản lý (khoản 2 Điều 70 Bộ luật Dân sự 2015). Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích đã được ly hôn thì dù người đó trở về hay có tin tức xác thực còn sống, quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật (khoản 3 Điều 70). Quyết định hủy bỏ phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú để ghi chú theo quy định về hộ tịch (khoản 4 Điều 70).

Việc hủy bỏ quyết định tuyên bố chết có hậu quả pháp lý rộng hơn và được quy định riêng tại Điều 72 Bộ luật Dân sự 2015: quan hệ hôn nhân không tự động khôi phục, di sản đã chia không phải hoàn trả trong nhiều trường hợp, nhưng người bị tuyên bố chết được đòi lại tài sản còn tồn tại. Trong bối cảnh nhiều người đi lao động, định cư nước ngoài hoặc mất liên lạc dài ngày, việc hiểu đúng hai thủ tục mất tích và tuyên bố chết giúp người thân chọn đúng căn cứ để yêu cầu Tòa án, tránh thời gian và chi phí. Chi phí giải quyết việc dân sự bao gồm lệ phí nộp cho Tòa án do cơ quan nhà nước ban hành; người dân cần liên hệ Tòa án có thẩm quyền hoặc luật sư để biết mức lệ phí áp dụng tại thời điểm nộp đơn.

Câu hỏi thường gặp

Tuyên bố mất tích là gì? Điều kiện để được tuyên bố mất tích?

Tuyên bố mất tích là thủ tục do Tòa án thực hiện khi một người biệt tích 02 năm liền, đã áp dụng đầy đủ biện pháp thông báo tìm kiếm mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống hay đã chết (Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015).

Hồ sơ yêu cầu tuyên bố mất tích gồm những gì?

Gồm đơn yêu cầu, chứng cứ biệt tích 02 năm liền, chứng cứ đã thông báo tìm kiếm và bản sao quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt nếu có (khoản 2 Điều 387 BLTTDS 2015).

Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết?

Tòa án nơi người bị yêu cầu có nơi cư trú cuối cùng có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố mất tích; Tòa án đã ra quyết định tuyên bố mất tích có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy bỏ (điểm b khoản 2 Điều 39 BLTTDS 2015).

Tuyên bố mất tích có khác tuyên bố chết không?

Có. Tuyên bố mất tích giải quyết quan hệ dân sự của người biệt tích (ly hôn, quản lý tài sản); tuyên bố chết mới chấm dứt quan hệ nhân thân, mở thừa kế (Điều 71 Bộ luật Dân sự 2015).

Khi người mất tích trở về thì xử lý thế nào?

Người đó hoặc người có quyền lợi liên quan yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích; người trở về được nhận lại tài sản sau khi thanh toán chi phí quản lý (Điều 70 Bộ luật Dân sự 2015).

Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Người thân biệt tích lâu ngày, cần yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư hỗ trợ chuẩn bị hồ sơ và thực hiện thủ tục tại Tòa án.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp