Tài sản bảo đảm là tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ qua các biện pháp cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký quỹ, bảo lãnh… theo Điều 292 Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13).
Theo Điều 299 Bộ luật Dân sự 2015, bên nhận bảo đảm (ngân hàng, tổ chức tín dụng, cá nhân cho vay) được xử lý tài sản bảo đảm khi thuộc một trong các trường hợp:
Như vậy, chỉ khi đến hạn trả nợ mà người vay không trả hoặc thuộc trường hợp xử lý trước thời hạn theo thỏa thuận, bên nhận bảo đảm mới được xử lý tài sản. Chưa đến hạn, bên cho vay không thể tự ý xử lý — cần nắm rõ nghĩa vụ trả nợ phát sinh từ hợp đồng vay tài sản để xác định đúng thời điểm phát sinh quyền xử lý.
Nghị định 21/2021/NĐ-CP còn quy định: việc xử lý phải đúng thỏa thuận của các bên và pháp luật liên quan; bên nhận bảo đảm xử lý tài sản để thu hồi nợ không phải là hoạt động kinh doanh tài sản; và xử lý theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm thì không cần văn bản ủy quyền hoặc đồng ý của bên bảo đảm (Điều 49 Nghị định 21/2021/NĐ-CP).
Theo Điều 303 Bộ luật Dân sự 2015, các bên được thỏa thuận chọn phương thức: bán đấu giá, bên nhận bảo đảm tự bán tài sản, bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế việc thực hiện nghĩa vụ, hoặc phương thức khác.
Nếu các bên không có thỏa thuận về phương thức xử lý thì tài sản được bán đấu giá, trừ trường hợp luật có quy định khác (khoản 2 Điều 303); việc bán đấu giá thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản (Điều 304 Bộ luật Dân sự 2015).
Trước khi xử lý tài sản, bên nhận bảo đảm phải thông báo bằng văn bản trong thời hạn hợp lý cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác; thông báo không đúng mà gây thiệt hại thì phải bồi thường (Điều 300 Bộ luật Dân sự 2015, chi tiết tại Điều 51 Nghị định 21/2021/NĐ-CP).
Người đang giữ tài sản bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản để xử lý khi thuộc các trường hợp tại Điều 299; nếu không giao, bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu tòa án giải quyết (Điều 301 Bộ luật Dân sự 2015).
Khoản 5 và 6 Điều 52 Nghị định 21/2021/NĐ-CP hướng dẫn cụ thể về thu giữ, bàn giao:
Quan trọng: bên nhận bảo đảm không được tự ý chiếm giữ, cưỡng chế thu giữ trái pháp luật. Quyền thu giữ chỉ được thực hiện trong khuôn khổ thỏa thuận hoặc theo trình tự tòa án; hành vi tự ý chiếm giữ trái luật có thể bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành.
Khi giữ tài sản để xử lý, bên nhận bảo đảm có trách nhiệm bảo quản, giữ gìn tài sản; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ khai thác, sử dụng tài sản được dùng thanh toán nghĩa vụ sau khi trừ chi phí cần thiết (Điều 53 Nghị định 21/2021/NĐ-CP).
Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản được thanh toán theo Điều 307 Bộ luật Dân sự 2015:
Khi một tài sản được dùng để bảo đảm nhiều nghĩa vụ, Điều 308 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm:
Điều này lý giải vì sao đăng ký biện pháp bảo đảm (thế chấp, cầm cố) quyết định quyền ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản, đặc biệt trong xử lý nợ xấu ngân hàng. Người đứng ra bảo lãnh trả nợ thay cần nắm quyền này — xem thêm bài bảo lãnh tài ngoại; nếu cần tư vấn từng vụ việc, tham khảo dịch vụ pháp lý.
Người vay (bên bảo đảm) vẫn được pháp luật bảo vệ trong quá trình xử lý tài sản:
Tranh chấp về xử lý tài sản bảo đảm (hiệu lực biện pháp, thứ tự ưu tiên, thu giữ…) là tranh chấp dân sự:
Khi xảy ra tranh chấp, nên nhờ luật sư rà soát hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm, biên bản xử lý tài sản để xác định hướng giải quyết. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.
Không. Ngân hàng chỉ được xử lý tài sản bảo đảm khi đến hạn mà người vay không trả nợ (Điều 299 Bộ luật Dân sự 2015) và phải tuân theo thỏa thuận, trình tự pháp luật; tự ý chiếm giữ trái luật là hành vi không được phép. Khi người vay không giao tài sản, ngân hàng phải yêu cầu tòa án giải quyết (Điều 301; Điều 52 Nghị định 21/2021/NĐ-CP).
Theo Điều 302 Bộ luật Dân sự 2015, bạn chỉ được nhận lại tài sản nếu thanh toán đầy đủ nghĩa vụ và chi phí chậm trả trước thời điểm xử lý; tài sản đã bán thì chỉ nhận phần chênh lệch thừa (Điều 307).
Theo Điều 308 Bộ luật Dân sự 2015, bên có biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba trước (thường là bên đăng ký trước) được thanh toán trước, vậy ngân hàng đăng ký bảo đảm sớm hơn có quyền ưu tiên.
Theo Điều 307 Bộ luật Dân sự 2015, nếu thiếu hụt thì bên có nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện phần nghĩa vụ còn lại — ngân hàng có thể yêu cầu người vay trả phần nợ còn thiếu từ tài sản khác chưa bị xử lý.
Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật (kiểm tra ngày 15/08/2026), bao gồm:
Bài viết không hướng dẫn lách luật hay trốn tránh nghĩa vụ trả nợ: người vay nên chủ động thương lượng, xử lý tài sản hoặc tái cơ cấu nợ theo đúng pháp luật; bên cho vay phải xử lý tài sản bảo đảm đúng thỏa thuận và trình tự pháp luật, tuyệt đối không tự ý chiếm giữ, cưỡng chế trái phép.
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.