Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định (Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015). Tài sản vay có thể là tiền, vật, giấy tờ có giá...
Đặc điểm nhận diện của hợp đồng vay: tài sản được chuyển giao cho bên vay, bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản đó (Điều 464 Bộ luật Dân sự 2015) và có nghĩa vụ hoàn trả tài sản cùng loại, đúng số lượng, chất lượng. Điều này phân biệt hợp đồng vay với hợp đồng thuê tài sản (phải trả lại chính tài sản đã thuê) hay hợp đồng gửi giữ (phải trả lại đúng tài sản đã gửi).
Hợp đồng vay có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể (Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015). Tuy pháp luật không bắt buộc mọi hợp đồng vay phải lập thành văn bản, nhưng trong thực tiễn, việc lập giấy vay nợ, hợp đồng vay bằng văn bản là hết sức cần thiết để làm chứng cứ khi có tranh chấp.
Căn cứ quy định về nội dung giao dịch dân sự (Điều 398 Bộ luật Dân sự 2015) và các quy định riêng về hợp đồng vay tài sản, một hợp đồng vay nên thể hiện đầy đủ các nội dung sau:
Hợp đồng vay có thể được công chứng, chứng thực theo yêu cầu của các bên. Việc công chứng, chứng thực không làm thay đổi bản chất của hợp đồng nhưng giúp củng cố giá trị chứng cứ. Đối với khoản vay có biện pháp bảo đảm bằng thế chấp tài sản, việc đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm là rất quan trọng để phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba và xác lập thứ tự ưu tiên thanh toán.
Lãi suất vay do các bên thỏa thuận, nhưng theo Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, lãi suất thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có quy định khác. Trường hợp các bên thỏa thuận lãi suất vượt quá 20%/năm thì phần lãi suất vượt quá không có hiệu lực; bên vay có quyền yêu cầu trả lại số tiền lãi đã trả vượt mức quy định.
Nếu các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất, hoặc có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn nêu trên, tức là 10%/năm (khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015).
Đối với lãi suất khi vỡ nợ, quá hạn: theo khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay chưa trả; đồng thời phải trả lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Các mức lãi suất này cũng phải tuân theo giới hạn quy định tại Điều 468.
Cần lưu ý: việc cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên mức lãi suất tối đa quy định trong Bộ luật Dân sự nhằm thu lợi bất chính có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Vay không kỳ hạn (Điều 469 Bộ luật Dân sự 2015): trường hợp không có thỏa thuận về lãi, bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý. Trường hợp có thỏa thuận trả lãi, bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản; bên vay phải trả lãi cho đến khi trả nợ gốc cho bên cho vay.
Vay có kỳ hạn (Điều 470 Bộ luật Dân sự 2015): trường hợp có thỏa thuận trả lãi, bên vay phải trả nợ theo đúng kỳ hạn đã thỏa thuận; bên vay có quyền trả nợ trước thời hạn nếu được bên cho vay đồng ý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp không thỏa thuận trả lãi, bên vay phải trả nợ khi đến hạn theo thỏa thuận. Nếu các bên không xác định rõ thời điểm trả nợ thì áp dụng quy định về vay không kỳ hạn tương ứng.
Khi đến hạn mà bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ, bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 như đã phân tích ở trên.
Trước khi khởi kiện, các bên có thể tìm kiếm giải pháp thương lượng: gia hạn thời hạn trả nợ, điều chỉnh lãi suất, trả nợ dần, hoặc xử lý tài sản bảo đảm (nếu có) theo thỏa thuận và quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm. Việc thỏa thuận gia hạn, cam kết trả nợ cần được lập thành văn bản để bảo đảm chứng cứ, đồng thời có ý nghĩa đối với việc xác định thời hiệu khởi kiện.
Trường hợp bên vay mất khả năng thanh toán, cố tình trốn tránh nghĩa vụ, bên cho vay nên cân nhắc khởi kiện tại Tòa án để bảo vệ quyền lợi, đồng thời có thể đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời như phong tỏa tài khoản, kê biên tài sản theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tranh chấp hợp đồng vay là tranh chấp hợp đồng dân sự, do đó thời hiệu khởi kiện là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015).
Về thẩm quyền, Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc (nếu bị đơn là cá nhân) hoặc nơi bị đơn có trụ sở (nếu bị đơn là tổ chức) có thẩm quyền giải quyết; các bên cũng có thể thỏa thuận lựa chọn Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn hoặc nơi có tài sản tranh chấp theo quy định về thẩm quyền của Tòa án (Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).
Chứng cứ quan trọng khi khởi kiện đòi nợ gồm: hợp đồng vay hoặc giấy vay nợ; chứng cứ chuyển giao tiền, tài sản (sao kê tài khoản ngân hàng, biên nhận); các văn bản xác nhận nợ, yêu cầu thanh toán, trao đổi giữa các bên. Trong đơn khởi kiện, nguyên đơn cần tính toán cụ thể số nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn đến thời điểm khởi kiện. Để quá trình khởi kiện thuận lợi, nên có sự hỗ trợ của luật sư trong việc chuẩn bị hồ sơ, xác định thời hiệu và thực hiện nghĩa vụ chứng minh.
Nội dung trên chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Mỗi vụ việc cần được đánh giá trên hồ sơ cụ thể.
Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.