Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật Hình sự quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật 86/2025/QH15 hiệu lực từ 01/07/2025). Nói dễ hiểu: đây là "hạn chót" để cơ quan tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố một người về hành vi phạm tội đã xảy ra.
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự mang ý nghĩa nhân đạo: khi thời gian trôi qua đủ lâu mà người phạm tội không tái phạm, Nhà nước không còn xét xử họ về hành vi cũ. Tuy nhiên, không phải tội phạm nào cũng được hưởng chế định này — một số tội đặc biệt nghiêm trọng bị loại trừ (mục 4). Điểm khởi đầu là xác định tội danh và khung hình phạt cao nhất của tội đó để phân loại tội phạm theo Điều 9 Bộ luật Hình sự (VBHN 2017) — tiền đề xác định thời hiệu.
Khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự phân loại tội phạm thành 04 loại căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt, và khoản 2 Điều 27 quy định thời hiệu tương ứng. Với pháp nhân thương mại phạm tội, việc phân loại cũng căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm theo khoản 2 Điều 9.
| Loại tội phạm (Điều 9) | Mức cao nhất của khung hình phạt | Thời hiệu truy cứu (Điều 27) |
|---|---|---|
| Tội phạm ít nghiêm trọng | Phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm | 05 năm |
| Tội phạm nghiêm trọng | Từ trên 03 năm đến 07 năm tù | 10 năm |
| Tội phạm rất nghiêm trọng | Từ trên 07 năm đến 15 năm tù | 15 năm |
| Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng | Từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình | 20 năm |
Ví dụ: tội trộm cắp tài sản (Điều 173 Bộ luật Hình sự) có khung phạt tù đến 20 năm (khoản 4) — tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thời hiệu 20 năm; tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở khung phạt tù đến 03 năm (khoản 1 Điều 174) — tội ít nghiêm trọng, thời hiệu chỉ 05 năm, xem bài tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Khoản 3 Điều 27 Bộ luật Hình sự quy định: thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện, không phải từ ngày hành vi bị phát giác hay từ ngày khởi tố.
Với tội phạm có tính chất liên tục (hành vi phạm tội kéo dài theo thời gian) hoặc hành vi phạm tội qua nhiều giai đoạn, thời điểm thực hiện tội phạm được xác định theo hướng dẫn của ngành Tòa án tùy từng cấu thành cụ thể. Trong thực tế, người bào chữa và cơ quan tố tụng thường tranh luận về mốc thời gian này vì nó quyết định việc còn hay hết thời hiệu.
Điều 28 Bộ luật Hình sự quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 27 không áp dụng đối với:
Với các tội này, người phạm tội có thể bị truy cứu bất kể hành vi phạm tội đã xảy ra bao lâu. Lưu ý: các khoản 4, 5 liên quan Điều 353, 354 có được sửa đổi bởi Luật 86/2025/QH15 (tăng mức phạt tiền, xử lý chuyển tiếp với án tử hình đã tuyên trước 01/07/2025), nhưng việc loại trừ thời hiệu đối với khoản 3, khoản 4 các điều này được giữ nguyên theo Điều 28.
Đáng chú ý: loạt luật tư pháp hình sự mới (Luật Dẫn độ 104/2025/QH15, Luật Tương trợ tư pháp về hình sự 103/2025/QH15...) có hiệu lực 01/07/2026 cho thấy xu hướng siết chặt truy cứu, không bỏ lọt tội phạm tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng — kể cả khi nghi phạm đã ra nước ngoài.
Khoản 3 Điều 27 Bộ luật Hình sự quy định trường hợp tính lại thời hiệu: nếu trong thời hạn quy định, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.
Ví dụ: năm 2020 ông A phạm tội ít nghiêm trọng (thời hiệu 05 năm, hết năm 2025); đến năm 2024 ông A lại phạm tội có khung hình phạt cao nhất trên 01 năm tù — thời hiệu tội cũ được tính lại từ năm 2024, tức kéo dài thêm 05 năm, hết năm 2029. Ngược lại, nếu tội phạm mới chỉ có mức phạt tù tối đa không quá 01 năm (hoặc phạt tiền, cải tạo không giam giữ), thời hiệu tội cũ không bị tính lại.
Khi đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, cơ quan có thẩm quyền không được khởi tố vụ án; nếu đã khởi tố thì phải đình chỉ. Khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự (VBHN 17/2026) liệt kê "đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự" là căn cứ không khởi tố vụ án hình sự. Hết thời hiệu cũng là căn cứ hủy bỏ quyết định khởi tố, đình chỉ vụ án và làm mất quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm theo hướng không có lợi (Điều 426 BLTTHS — VBHN 17/2026). Người bị buộc tội và luật sư nên chủ động nêu vấn đề thời hiệu để bảo vệ quyền lợi, vì đây là căn cứ đình chỉ vụ án bắt buộc.
Theo khoản 3 Điều 27 Bộ luật Hình sự, thời hiệu được tính từ ngày tội phạm được thực hiện, không phụ thuộc vào thời điểm hành vi bị phát giác hay bị khởi tố.
Tùy khung hình phạt: trộm cắp với khung phạt tù đến 03 năm là tội ít nghiêm trọng (thời hiệu 05 năm); khung từ trên 03 đến 07 năm là nghiêm trọng (10 năm); khung từ trên 07 đến 15 năm là rất nghiêm trọng (15 năm); khung từ trên 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân là đặc biệt nghiêm trọng (20 năm) — theo Điều 9 và Điều 27 Bộ luật Hình sự. Xem thêm bài tội trộm cắp tài sản.
Có. Tội giết người (Điều 123 Bộ luật Hình sự) không nằm trong danh mục loại trừ tại Điều 28, thường thuộc loại rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng nên thời hiệu là 15 hoặc 20 năm. Chỉ các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phá hoại hòa bình, chống loài người, tội phạm chiến tranh và một số trường hợp tham ô, nhận hối lộ đặc biệt nghiêm trọng mới không áp dụng thời hiệu.
Không còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa. Cơ quan tố tụng phải ra quyết định không khởi tố hoặc đình chỉ vụ án (Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự - VBHN 17/2026). Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại dân sự (nếu có) vẫn có thể được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự.
Không. Thời hiệu vẫn chạy, thậm chí được tính lại nếu có hành vi phạm tội mới với khung hình phạt trên 01 năm tù. Trốn ra nước ngoài còn dẫn đến lệnh truy nã; với tội không áp dụng thời hiệu theo Điều 28, nghi phạm bị truy cứu bất kể trốn bao lâu. Các luật về dẫn độ và tương trợ tư pháp hình sự hiệu lực 01/07/2026 tạo cơ sở hợp tác quốc tế đưa nghi phạm ra xét xử.
Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Bài viết liên quan: Khởi tố vụ án hình sự · Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cần luật sư bảo vệ trong vụ án hình sự, xem dịch vụ tố tụng và bào chữa hình sự.
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.