Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể

Hình sự · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/08
Mục lục:
  1. Nội dung nguyên tắc
  2. Các trường hợp được phép bắt, giam, giữ
  3. Thủ tục bảo đảm hợp pháp
  4. Trách nhiệm khi vi phạm
  5. Quyền của người bị bắt, bị giam

Điều 10. Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể

Điều 10. Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể

Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ, tạm giam người phải theo quy định của Bộ luật này. Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của con người.

Nguồn: Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (101/2015/QH13) — Toàn văn tại Luật Minh Bạch

Khái quát nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể

Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể tại Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (Luật số 101/2015/QH13, sửa đổi, bổ sung năm 2021) cụ thể hóa Điều 20 Hiến pháp 2013: mọi người có quyền được pháp luật bảo hộ về thân thể, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hoặc hình thức đối xử xâm phạm thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. Trong tố tụng hình sự, quyền này giới hạn quyền lực cưỡng chế của Nhà nước: không ai bị bắt nếu không có căn cứ luật định, quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang theo luật.

Giá trị cốt lõi của nguyên tắc là mọi biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam phải tuân thủ chặt chẽ Điều 109 đến Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Thời hạn tạm giữ theo Điều 118 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 không quá 03 ngày, gia hạn mỗi lần không quá 03 ngày; tạm giam phải theo căn cứ, thẩm quyền, thời hạn tại Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Hành vi dùng nhục hình, bức cung không chỉ làm sai lệch chứng cứ mà còn có thể bị xử lý hình sự theo Điều 373 và Điều 374 Bộ luật Hình sự 2015.

Nội dung Điều 10 BLTTHS 2015 (các khoản)

Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 khẳng định nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong suốt quá trình tố tụng: không ai bị bắt nếu không có căn cứ, không có quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền theo luật định; việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam phải tuân thủ đúng trình tự, thủ tục do Điều 109 đến Điều 119 BLTTHS 2015 quy định. Nội dung này cụ thể hóa Điều 20 Hiến pháp năm 2013 về quyền bất khả xâm phạm về thân thể và cấm tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình. Với tạm giữ, thời hạn ban đầu không quá 3 ngày và chỉ được gia hạn theo điều kiện luật định, tối đa thêm 3 ngày theo Điều 118 BLTTHS 2015; tạm giam thực hiện theo căn cứ, thời hạn tại Điều 173 BLTTHS 2015. Điều 10 đồng thời nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình; người vi phạm có thể bị truy cứu về Điều 373Điều 374 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Các biện pháp ngăn chặn liên quan: bắt người, tạm giữ, tạm giam (Điều 109-119 BLTTHS)

Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 cụ thể hóa Điều 20 Hiến pháp 2013: quyền bất khả xâm phạm về thân thể chỉ có thể bị hạn chế bằng căn cứ luật định, quyết định hoặc phê chuẩn của cơ quan có thẩm quyền. Nhóm biện pháp tại Điều 109-119 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, gồm bắt người, tạm giữ, tạm giam, vì vậy không phải “thủ tục hành chính” tùy nghi, mà là giới hạn nghiêm ngặt của quyền lực tố tụng.

Bắt người phải thuộc các trường hợp luật định như bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã theo Điều 110-112 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Tạm giữ áp dụng theo Điều 117, thời hạn theo Điều 118 là không quá 03 ngày; mỗi lần gia hạn không quá 03 ngày. Tạm giam theo Điều 119, thời hạn điều tra theo Điều 173. Mọi hành vi tra tấn, bức cung, dùng nhục hình bị nghiêm cấm theo Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và có thể cấu thành tội phạm theo Điều 373, Điều 374 Bộ luật Hình sự 2015.

Điều kiện và căn cứ bắt, tạm giữ, tạm giam đúng luật

Quyền bất khả xâm phạm về thân thể chỉ có thể bị hạn chế theo đúng căn cứ, thẩm quyền, trình tự luật định. Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang; nguyên tắc này tương thích với Điều 20 Hiến pháp 2013. Về căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn, Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 yêu cầu phải nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn việc bị can, bị cáo bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ hoặc tiếp tục phạm tội; việc bắt người được cụ thể hóa tại các điều 110, 111, 112, 113 và 119 của Bộ luật này.

Tạm giữ, tạm giam không đương nhiên phát sinh từ việc bắt người mà phải đáp ứng điều kiện riêng về chủ thể, hành vi và mức độ cần thiết. Theo Điều 117 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hạn tạm giữ là không quá 3 ngày, có thể gia hạn nhưng tổng gia hạn không quá 3 ngày trong từng lần luật định; nếu không đủ căn cứ khởi tố hoặc áp dụng biện pháp khác thì phải trả tự do ngay. Tạm giam là biện pháp nghiêm khắc hơn, chỉ áp dụng trong các trường hợp tại Điều 119 và thời hạn phải tuân Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Mọi hành vi bức cung, dùng nhục hình đều bị cấm và có thể bị xử lý theo Điều 373, Điều 374 Bộ luật Hình sự 2015.

Hậu quả pháp lý khi vi phạm nguyên tắc này

Vi phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể có thể làm phát sinh hậu quả tố tụng trực tiếp. Việc bắt, tạm giữ, tạm giam không đúng căn cứ, thẩm quyền, trình tự theo Điều 10 và các Điều 109-119 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có thể bị hủy bỏ, thay thế hoặc chấm dứt; người bị áp dụng biện pháp trái luật phải được trả tự do khi không còn căn cứ. Thời hạn tạm giữ phải tuân thủ Điều 118 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; thời hạn tạm giam phải tuân thủ Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Lời khai, tài liệu thu được bằng tra tấn, bức cung, nhục hình cũng không thể được coi là chứng cứ hợp pháp theo Điều 87 và Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Về trách nhiệm cá nhân, người tiến hành tố tụng hoặc người có thẩm quyền dùng nhục hình, bức cung có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 373 và Điều 374 Bộ luật Hình sự 2015. Đồng thời, hành vi xâm phạm thân thể trái pháp luật còn vi phạm Điều 20 Hiến pháp 2013, làm phát sinh trách nhiệm kỷ luật, bồi thường của Nhà nước nếu có thiệt hại theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017.

Lưu ý khi áp dụng

  • Chỉ bắt người khi có căn cứ, đúng thẩm quyền, đúng lệnh hoặc quyết định theo Điều 10, Điều 113 và Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
  • Tạm giữ phải kiểm soát chặt thời hạn: không quá 03 ngày, gia hạn một lần không quá 03 ngày theo khoản 1 Điều 118 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
  • Tạm giam chỉ áp dụng khi thật sự cần thiết, đúng căn cứ và thời hạn theo Điều 119, Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
  • Mọi hành vi tra tấn, bức cung, dùng nhục hình đều bị nghiêm cấm theo Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Điều 20 Hiến pháp 2013.
  • Người vi phạm có thể bị truy cứu về Tội dùng nhục hình hoặc Tội bức cung theo Điều 373, Điều 374 Bộ luật Hình sự 2015.
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp