Bồi thường do người làm công | Công ty Luật Minh Bạch

Bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra

Dân sự · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/08
Mục lục:
  1. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường
  2. Phạm vi trách nhiệm của người làm công
  3. Trách nhiệm của pháp nhân đối với thiệt hại do thành viên gây ra
  4. Điều kiện được giảm mức bồi thường
  5. Quyền yêu cầu hoàn trả của người quản lý
  6. Thủ tục yêu cầu bồi thường
  7. Câu hỏi thường gặp

1. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường

Khi người làm công, người học nghề gây thiệt hại cho người khác trong khi thực hiện công việc được giao, theo Điều 600 Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13), cá nhân, pháp nhân sử dụng lao động phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi của họ gây ra. Quy định này áp dụng cho cả người giúp việc gia đình, thợ học việc, người làm thuê theo vụ việc.

Để xác định trách nhiệm, phải xem căn cứ chung theo Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015: người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường; nhưng không phải bồi thường nếu thiệt hại do bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại.

Trách nhiệm của chủ sử dụng lao động phát sinh khi hội tụ đủ các điều kiện:

  • Có thiệt hại thực tế, xác định theo Điều 589 (tài sản bị xâm phạm) hoặc Điều 590 (sức khỏe bị xâm phạm);
  • Có hành vi gây thiệt hại của người làm công, người học nghề;
  • Thiệt hại xảy ra trong khi thực hiện công việc được giao — tòa án hiểu rộng, gồm cả hành vi liên quan trực tiếp đến công việc, không chỉ trong giờ làm;
  • Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại.

Người làm công gây thiệt hại ngoài phạm vi công việc được giao thì chủ quản không phải chịu trách nhiệm thay; người gây thiệt hại tự bồi thường theo quy định chung.

2. Phạm vi trách nhiệm của người làm công

Điều 600 Bộ luật Dân sự 2015 đặt nghĩa vụ bồi thường lên người chủ quản trước tiên. Người làm công, người học nghề chỉ phải tự mình đứng ra bồi thường khi họ gây thiệt hại ngoài phạm vi công việc được giao hoặc khi người chủ quản chứng minh được không thuộc trường hợp mình phải chịu trách nhiệm thay.

Trong quan hệ lao động thuộc phạm vi Bộ luật Lao động 2019 (45/2019/QH14), người lao động chịu trách nhiệm vật chất khi làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động, theo Điều 129: nếu thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất, giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng thì bồi thường nhiều nhất 03 tháng tiền lương.

Việc xem xét mức bồi thường căn cứ vào lỗi, mức độ thiệt hại thực tế và hoàn cảnh gia đình, nhân thân của người lao động (Điều 130 Bộ luật Lao động 2019). Nên xem thêm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để phân biệt phạm vi trách nhiệm của chủ quản và người làm công; nếu cần tư vấn, tham khảo dịch vụ pháp lý.

3. Trách nhiệm của pháp nhân đối với thiệt hại do thành viên gây ra

Bên cạnh cá nhân, pháp nhân (doanh nghiệp, công ty, tổ chức) cũng phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao, theo Điều 597 Bộ luật Dân sự 2015. "Người của pháp nhân" bao gồm thành viên, người lao động, người được pháp nhân giao thực hiện nhiệm vụ.

Điểm khác biệt: với người làm công theo Điều 600, chủ quản thường là cá nhân, hộ gia đình; với pháp nhân theo Điều 597, toàn bộ thiệt hại do thành viên, nhân viên gây ra khi thực hiện nhiệm vụ do pháp nhân bồi thường bằng tài sản của mình.

Ví dụ: lái xe chở hàng của công ty gây tai nạn khi đang giao hàng thì công ty chịu trách nhiệm bồi thường theo Điều 597. Nếu tài sản gây thiệt hại thuộc loại nguồn nguy hiểm cao độ (ô tô, máy móc) thì áp dụng cả quy định tại Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015: chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường kể cả khi không có lỗi, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại hoặc do bất khả kháng, tình thế cấp thiết.

Điều này giải thích vì sao trong các vụ tai nạn lao động hoặc tai nạn giao thông do xe công ty gây ra, người bị hại có thể yêu cầu doanh nghiệp bồi thường mà không cần chứng minh lỗi của cá nhân tài xế.

4. Điều kiện được giảm mức bồi thường

Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015 cho phép giảm mức bồi thường khi đủ hai điều kiện: người chịu trách nhiệm không có lỗi hoặc có lỗi vô ý, và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của họ.

Ngoài ra, nếu bên bị thiệt hại có lỗi trong việc để thiệt hại xảy ra thì phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra không được bồi thường — tình tiết thường viện dẫn khi người lao động không tuân thủ quy trình an toàn. Mức giảm do tòa án quyết định khi có đơn yêu cầu và chứng cứ về hoàn cảnh kinh tế.

5. Quyền yêu cầu hoàn trả của người quản lý

Điều 600 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: cá nhân, pháp nhân đã bồi thường thì có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật. Tương tự, Điều 597 cho phép pháp nhân yêu cầu người có lỗi hoàn trả.

Khoản hoàn trả không bắt buộc toàn bộ — căn cứ trên mức độ lỗi, thiệt hại thực tế và hoàn cảnh người lao động. Người làm công không có lỗi thì không phải hoàn trả.

Việc khấu trừ lương để bồi thường chỉ được thực hiện theo Điều 102 Bộ luật Lao động 2019: mức khấu trừ hằng tháng không quá 30% tiền lương thực trả sau khi trích nộp bảo hiểm và thuế thu nhập cá nhân.

6. Thủ tục yêu cầu bồi thường

Thủ tục yêu cầu bồi thường được thực hiện theo trình tự sau:

  • Bước 1 – Thương lượng: người bị thiệt hại gửi văn bản yêu cầu, nêu rõ thiệt hại (hoá đơn, chi phí y tế, giám định theo Điều 590) và mức bồi thường đề nghị;
  • Bước 2 – Hòa giải: nếu thương lượng không thành, đề nghị hòa giải ở cơ sở hoặc hòa giải viên lao động nếu thuộc Bộ luật Lao động;
  • Bước 3 – Khởi kiện: khi không đạt thỏa thuận, khởi kiện ra tòa án cấp huyện nơi bị đơn cư trú hoặc nơi gây thiệt hại — xem thêm bài khởi kiện dân sự để biết hồ sơ và thời hiệu.

Người yêu cầu cần chứng cứ về quan hệ làm công – chủ quản, hành vi gây thiệt hại, thiệt hại thực tế và quan hệ nhân quả. Điểm khó nhất thường là xác định thiệt hại và mức độ lỗi; nên nhờ luật sư đánh giá hồ sơ trước khi khởi kiện, gửi thông tin tại đây.

7. Câu hỏi thường gặp

Người giúp việc gia đình gây thiệt hại trong lúc làm việc, chủ nhà có phải bồi thường không?

Theo Điều 600 Bộ luật Dân sự 2015, người giúp việc là người làm công; nếu thiệt hại xảy ra trong khi thực hiện công việc được giao thì cá nhân sử dụng lao động (chủ nhà) phải bồi thường, sau đó có quyền yêu cầu người giúp việc có lỗi hoàn trả một khoản tiền theo quy định.

Người làm công có phải tự bồi thường khi chủ quản không trả được không?

Người bị thiệt hại chỉ yêu cầu người làm công bồi thường trực tiếp khi thiệt hại xảy ra ngoài phạm vi công việc được giao. Trong phạm vi công việc được giao, người chịu trách nhiệm bồi thường trước tiên là chủ quản; người làm công chỉ hoàn trả lại cho chủ quản theo mức độ lỗi của mình.

Thiệt hại do xe của công ty gây ra thì ai bồi thường?

Người của pháp nhân gây thiệt hại trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao thì pháp nhân bồi thường theo Điều 597 Bộ luật Dân sự 2015. Ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ nên chủ sở hữu còn phải bồi thường cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp miễn trừ theo Điều 601.

Thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường là bao lâu?

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tính từ ngày quyền và lợi ích bị xâm phạm; chi tiết xem bài khởi kiện dân sự. Nếu vụ việc đã quá hạn, cần kiểm tra căn cứ tạm dừng, gián đoạn thời hiệu trước khi quyết định khởi kiện.

Lưu ý khi áp dụng

Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật (kiểm tra ngày 15/08/2026), bao gồm:

  • Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13) - các Điều 584, 585, 589, 590, 597, 600, 601 - còn hiệu lực
  • Bộ luật Lao động 2019 (45/2019/QH14) - các Điều 102, 129, 130 - còn hiệu lực

Bài viết không nhằm định hướng bồi thường theo hướng trốn tránh nghĩa vụ: quyền yêu cầu hoàn trả và giảm mức bồi thường chỉ áp dụng khi có căn cứ pháp lý rõ ràng và được cơ quan có thẩm quyền xem xét.

Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp vụ việc người làm công gây thiệt hại?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333