Điều 16. Các hành vi bị nghiêm cấm
1. Cấp hoặc từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, yêu cầu người thành lập doanh nghiệp nộp thêm giấy tờ khác trái với quy định của Luật này; gây chậm trễ, phiền hà, cản trở, sách nhiễu người thành lập doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
2. Ngăn cản chủ sở hữu, thành viên, cổ đông của doanh nghiệp thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
3. Hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp mà không đăng ký hoặc tiếp tục kinh doanh khi đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp đang bị tạm dừng hoạt động kinh doanh.
4. Kê khai không trung thực, không chính xác nội dung hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và nội dung hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp.
5. Kê khai khống vốn điều lệ, không góp đủ số vốn điều lệ như đã đăng ký; cố ý định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị.
6. Kinh doanh các ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh; kinh doanh ngành, nghề chưa được tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài; kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện khi chưa đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật hoặc không bảo đảm duy trì đủ điều kiện đầu tư kinh doanh trong quá trình hoạt động.
7. Lừa đảo, rửa tiền, tài trợ khủng bố. Chương II THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP
Nguồn: Xem Điều 16 (toàn văn)
Điều 16 Luật Doanh nghiệp 2020 (59/2020/QH14) nằm tại Chương I — Những quy định chung, quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động thành lập, quản lý và kinh doanh của doanh nghiệp. Điều luật gồm 7 khoản, nhóm lại theo bốn đối tượng chính: hành vi cản trở của cơ quan, người có thẩm quyền đăng ký kinh doanh (khoản 1); hành vi xâm phạm quyền của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông (khoản 2); hành vi của doanh nghiệp và người thành lập doanh nghiệp trong đăng ký, góp vốn và kinh doanh (khoản 3 đến khoản 6); và hành vi lừa đảo, rửa tiền, tài trợ khủng bố (khoản 7).
Điều 16 có vai trò là điều luật khung về trật tự kinh doanh: nó không quy định chế tài cụ thể cho từng hành vi, mà xác định ranh giới bị cấm; chế tài xử lý được điều chỉnh bởi pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, Bộ luật Hình sự và các luật chuyên ngành. Do đó, khi phân tích Điều 16 phải luôn gắn với các văn bản chế tài có liên quan.
Điều 16 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021, thay thế quy định tương ứng tại Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2014.
Khoản 1 Điều 16 nghiêm cấm việc "cấp hoặc từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, yêu cầu người thành lập doanh nghiệp nộp thêm giấy tờ khác trái với quy định của Luật này"; đồng thời cấm "gây chậm trễ, phiền hà, cản trở, sách nhiễu người thành lập doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp". Quy định này áp dụng trực tiếp với Cơ quan đăng ký kinh doanh và công chức thực thi nhiệm vụ đăng ký kinh doanh.
Bảo đảm pháp lý cho quy định này là Điều 26 và Điều 27 Luật Doanh nghiệp 2020: cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét tính hợp lệ của hồ sơ trong thời hạn 03 ngày làm việc, và chỉ được từ chối khi hồ sơ không đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 27 (ngành, nghề không thuộc lĩnh vực cấm; tên doanh nghiệp hợp lệ; hồ sơ hợp lệ; đã nộp đủ lệ phí). Khi từ chối, cơ quan phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Khoản 2 Điều 16 cấm hành vi "ngăn cản chủ sở hữu, thành viên, cổ đông của doanh nghiệp thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty". Đây là quy định bảo vệ quyền tài sản và quyền quản trị nội bộ: quyền biểu quyết, quyền yêu cầu triệu tập họp, quyền tiếp cận thông tin, quyền nhận cổ tức… Nếu bị xâm phạm, thành viên, cổ đông có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý và khởi kiện theo quy định của pháp luật tố tụng.
Khoản 3 cấm "hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp mà không đăng ký hoặc tiếp tục kinh doanh khi đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp đang bị tạm dừng hoạt động kinh doanh". Hành vi này xâm phạm trực tiếp chế độ đăng ký kinh doanh bắt buộc và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội kinh doanh trái phép theo Điều 188 Bộ luật Hình sự 2015 khi đáp ứng dấu hiệu cấu thành.
Khoản 4 cấm hành vi "kê khai không trung thực, không chính xác nội dung hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và nội dung hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp". Quy định này gắn với trách nhiệm của người thành lập doanh nghiệp tại khoản 3 Điều 8 Luật Doanh nghiệp 2020: doanh nghiệp chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của thông tin kê khai và phải kịp thời sửa đổi, bổ sung khi phát hiện sai sót.
Khoản 5 cấm ba hành vi nhóm: "kê khai khống vốn điều lệ, không góp đủ số vốn điều lệ như đã đăng ký; cố ý định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị". Đây là nhóm hành vi phổ biến nhất trong thực tiễn, đi kèm nghĩa vụ góp vốn đầy đủ, đúng hạn và nghĩa vụ định giá tài sản góp vốn theo quy định tại Điều 34, Điều 35, Điều 36 Luật Doanh nghiệp 2020 (tài sản góp vốn phải định giá được bằng Đồng Việt Nam, do các thành viên hoặc tổ chức thẩm định giá xác định và tự chịu trách nhiệm về tính trung thực).
Thực tiễn cho thấy, hành vi khai khống vốn điều lệ — ví dụ làm khống hóa đơn, chứng từ nộp tiền vào tài khoản rồi rút ra — là một trong những lý do khiến Cơ quan đăng ký kinh doanh từ chối hoặc thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, đồng thời tiềm ẩn rủi ro hình sự đối với người vi phạm.
Ngoài khoản 2 nêu trên, ranh giới bảo vệ quyền lợi thành viên, cổ đông còn được củng cố bởi các quy định về trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp. Theo Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2020, người đại diện theo pháp luật phải thực hiện quyền, nghĩa vụ một cách trung thực, cẩn trọng, trung thành với lợi ích doanh nghiệp; không lạm dụng địa vị, chức vụ để tư lợi. Trong mối quan hệ với Điều 16, các hành vi của người quản lý dùng thông tin nội bộ, lợi ích xung đột để chèn ép cổ đông nhỏ thường được xem xét đồng thời với hành vi "ngăn cản cổ đông thực hiện quyền" tại khoản 2.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp có nghĩa vụ lưu giữ sổ đăng ký thành viên hoặc sổ đăng ký cổ đông theo Điều 11 Luật Doanh nghiệp 2020. Việc sổ sách không trung thực, ghi khống hoặc ghi thiếu quyền của thành viên, cổ đông có thể bị đánh giá là hành vi vi phạm khoản 4, khoản 5 Điều 16 và làm phát sinh tranh chấp nội bộ, yêu cầu hủy bỏ các quyết định của công ty trước Tòa án hoặc Trọng tài.
Khoản 6 Điều 16 cấm "kinh doanh các ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh; kinh doanh ngành, nghề chưa được tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài; kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện khi chưa đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật hoặc không bảo đảm duy trì đủ điều kiện trong quá trình hoạt động". Danh mục ngành, nghề cấm và ngành, nghề có điều kiện được quy định tại Phụ lục I, II, IV Luật Đầu tư 2020 và các văn bản liên quan — doanh nghiệp cần đối chiếu danh mục này khi đăng ký và duy trì kinh doanh.
Khoản 7 cấm tuyệt đối "lừa đảo, rửa tiền, tài trợ khủng bố". Đây là quy định mang tính kết nối với Bộ luật Hình sự và pháp luật về phòng, chống rửa tiền; doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ nhận biết khách hàng, báo cáo giao dịch đáng ngờ theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
Cần lưu ý: hành vi cạnh tranh không lành mạnh không nằm trong Điều 16 Luật Doanh nghiệp, mà được điều chỉnh bởi Luật Cạnh tranh 2018 (xâm phạm bí mật kinh doanh, ép buộc trong kinh doanh, gièm pha, quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh…). Điều 16 chỉ bao quát các hành vi liên quan đến ngành, nghề và điều kiện kinh doanh. Khi phân tích một vụ việc, cần phân định chính xác căn cứ xử lý để không nhầm lẫn giữa trật tự đăng ký kinh doanh và trật tự cạnh tranh.
Điều 16 không quy định mức phạt cụ thể mà chế tài được áp dụng theo hệ thống pháp luật liên quan:
Trong trường hợp cán bộ cơ quan đăng ký kinh doanh vi phạm khoản 1 Điều 16 (sách nhiễu, yêu cầu nộp thêm giấy tờ trái quy định), người thành lập doanh nghiệp có quyền khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
1. Kinh doanh mà không đăng ký doanh nghiệp bị xử lý thế nào?
Đây là hành vi bị nghiêm cấm tại khoản 3 Điều 16 Luật Doanh nghiệp 2020. Người vi phạm bị xử phạt vi phạm hành chính; nếu đủ dấu hiệu cấu thành, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội kinh doanh trái phép theo Điều 188 Bộ luật Hình sự 2015.
2. Kê khai khống vốn điều lệ là gì và hậu quả pháp lý ra sao?
Khai khống vốn điều lệ là kê khai vốn cao hơn thực tế góp, hoặc làm khống chứng từ để chứng minh đã góp vốn trong khi chưa góp. Hành vi này bị cấm tại khoản 5 Điều 16, có thể bị xử phạt hành chính, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và tiềm ẩn rủi ro hình sự.
3. Cổ đông bị ngăn cản thực hiện quyền biểu quyết có được bảo vệ không?
Có. Khoản 2 Điều 16 nghiêm cấm hành vi ngăn cản chủ sở hữu, thành viên, cổ đông thực hiện quyền, nghĩa vụ theo Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty. Cổ đông có thể yêu cầu xử lý vi phạm và khởi kiện yêu cầu hủy bỏ quyết định của công ty theo quy định tố tụng.
Để tránh vi phạm Điều 16, doanh nghiệp nên: đối chiếu ngành, nghề kinh doanh với Phụ lục Luật Đầu tư 2020 trước khi đăng ký; kê khai trung thực và góp đủ vốn điều lệ đúng hạn; lưu giữ hồ sơ, sổ sách đầy đủ; và bảo đảm duy trì điều kiện kinh doanh trong suốt quá trình hoạt động.
Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.