Khi tác phẩm bị sao chép, sử dụng trái phép, chủ thể quyền tác giả có thể yêu cầu người xâm phạm chấm dứt hành vi, gỡ bỏ nội dung vi phạm trên không gian mạng và bồi thường thiệt hại, đồng thời có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước hoặc Tòa án xử lý theo biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi.
Quyền tác giả gồm quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm, quy định tại Điều 19 và Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ. Quyền nhân thân gồm quyền đặt tên tác phẩm, đứng tên thật hoặc bút danh, công bố tác phẩm và bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm. Quyền tài sản gồm quyền làm tác phẩm phái sinh, biểu diễn, sao chép, phân phối, phát sóng và cho thuê tác phẩm.
Theo Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ, hành vi xâm phạm quyền tác giả bao gồm xâm phạm quyền nhân thân, xâm phạm quyền tài sản, không thực hiện nghĩa vụ về quyền tác giả, cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu biện pháp công nghệ bảo vệ quyền, cùng các hành vi liên quan đến thông tin quản lý quyền. Với người làm nội dung, hành vi điển hình nhất là sao chép, đăng tải lại toàn bộ hoặc một phần tác phẩm của người khác mà không được phép và không trích dẫn đúng quy định.
Việc xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả cần đối chiếu trên các yếu tố:
Điều 198a Luật Sở hữu trí tuệ quy định giả định về quyền tác giả trong thủ tục tố tụng: cá nhân, tổ chức được nêu tên theo cách thông thường là tác giả thì được coi là chủ thể quyền nếu không có chứng cứ ngược lại. Điều này giúp người sáng tác nội dung có cơ sở bảo vệ quyền ngay cả khi chưa đăng ký. Để hiểu rõ hơn, bạn có thể tham khảo bài bảo hộ quyền tác giả và bài xử lý xâm phạm nhãn hiệu.
Biện pháp dân sự được Tòa án áp dụng khi chủ thể quyền khởi kiện, gồm các biện pháp quy định tại Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ: buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi thường thiệt hại; buộc tiêu hủy hoặc phân phối, đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, phương tiện sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm; buộc gỡ bỏ, ẩn hoặc vô hiệu hóa truy cập đến thông tin, nội dung, tài khoản, trang thông tin điện tử có liên quan đến hành vi xâm phạm.
Mức bồi thường được xác định theo thiệt hại thực tế, bao gồm cả chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục, theo nguyên tắc tại Điều 204 và Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ. Trước hoặc trong quá trình khởi kiện, chủ thể quyền có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời như thu giữ, kê biên hàng hóa, ngăn chặn chuyển dịch để bảo toàn chứng cứ theo Điều 206, Điều 207 Luật Sở hữu trí tuệ.
Trong vụ kiện, nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh mình là chủ thể quyền và cung cấp chứng cứ về hành vi xâm phạm theo Điều 203 Luật Sở hữu trí tuệ. Chứng cứ chứng minh quyền gồm Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả hoặc chứng cứ về căn cứ phát sinh quyền khi chưa đăng ký.
Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho tác giả, chủ sở hữu, người tiêu dùng hoặc xã hội có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 211 Luật Sở hữu trí tuệ. Hình thức, mức phạt và thủ tục xử phạt được Chính phủ quy định cụ thể tại Nghị định 65/2023/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 15/2026/NĐ-CP, Nghị định 33/2026/NĐ-CP và Nghị định 100/2026/NĐ-CP).
Thẩm quyền xử lý hành chính thuộc người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, trong đó có Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ và các cơ quan liên quan, theo Điều 200 Luật Sở hữu trí tuệ.
Biện pháp hành chính thường được lựa chọn khi hành vi xâm phạm rõ ràng, chứng cứ đầy đủ và chủ thể quyền muốn xử lý nhanh, bởi thủ tục đơn giản hơn so với khởi kiện tại Tòa án. Tuy nhiên, mức bồi thường thiệt hại thường chỉ được giải quyết triệt để thông qua con đường dân sự. Nếu cần luật sư hỗ trợ toàn bộ quá trình thu thập chứng cứ, yêu cầu xử lý và khởi kiện, bạn có thể tham khảo dịch vụ pháp lý của chúng tôi.
Cá nhân, pháp nhân thương mại thực hiện hành vi xâm phạm quyền tác giả có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự, theo Điều 212 Luật Sở hữu trí tuệ và quy định của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) về tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan. Việc áp dụng biện pháp hình sự thuộc thẩm quyền của Tòa án, và chỉ đặt ra khi hành vi có mức độ nguy hiểm cao hơn nhiều so với vi phạm hành chính — thường là sao chép, phân phối tác phẩm quy mô lớn vì mục đích thương mại.
Chủ thể quyền có quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước xử lý theo Điều 198 và Điều 199 Luật Sở hữu trí tuệ. Trình tự thực tiễn thường gồm các bước:
Hồ sơ yêu cầu xử lý gồm đơn yêu cầu; giấy tờ chứng minh quyền; chứng cứ về hành vi xâm phạm; kết luận giám định (nếu có); giấy ủy quyền nếu nộp thông qua đại diện. Mỗi vụ việc cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể để lựa chọn biện pháp phù hợp nhất.
Trên không gian mạng, nội dung vi phạm lan truyền nhanh và dễ bị xóa dấu vết, nên pháp luật chú trọng vai trò của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian và chủ quản nền tảng số. Điều 198b Luật Sở hữu trí tuệ quy định doanh nghiệp trung gian có trách nhiệm triển khai biện pháp kỹ thuật, phối hợp với cơ quan nhà nước và chủ thể quyền để bảo vệ quyền tác giả trên không gian mạng; đồng thời được miễn trừ trách nhiệm trong một số trường hợp như chỉ truyền dẫn nội dung hoặc đã nhanh chóng gỡ bỏ nội dung khi biết là xâm phạm.
Nghị định 100/2026/NĐ-CP (hiệu lực từ 01/4/2026) sửa đổi, bổ sung Nghị định 65/2023/NĐ-CP, bổ sung quy định về tự động hóa quy trình bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ: các cơ quan bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đầu tư, xây dựng hệ thống phát hiện, giám sát, theo dõi tự động hành vi xâm phạm trên không gian mạng thông qua ứng dụng công nghệ số, phân tích dữ liệu lớn và phân tích hành vi; xử lý hành vi xâm phạm theo thẩm quyền, bao gồm yêu cầu gỡ bỏ nội dung xâm phạm, tạm ngừng hoặc hạn chế hoạt động của tài khoản xâm phạm.
Đây là quy định mới tăng cường phát hiện và xử lý xâm phạm quyền tác giả trên môi trường số, phù hợp với thực tế người làm nội dung ngày càng bị sao chép, đăng tải trái phép trên các nền tảng. Kết hợp với trách nhiệm của doanh nghiệp trung gian, chủ thể quyền có thêm cơ sở để yêu cầu gỡ bỏ nội dung vi phạm và xử lý tài khoản xâm phạm.
Nội dung trên chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Mỗi vụ việc cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể.
Tùy tính chất, mức độ, hành vi xâm phạm quyền tác giả có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự theo Điều 199 Luật Sở hữu trí tuệ.
Chủ thể quyền có thể yêu cầu người xâm phạm chấm dứt hành vi, gỡ bỏ nội dung vi phạm trên không gian mạng, xin lỗi, bồi thường thiệt hại theo Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ, hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước xử lý, khởi kiện tại Tòa án.
Cần chứng cứ chứng minh mình là chủ thể quyền (Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả hoặc chứng cứ về căn cứ phát sinh quyền) và chứng cứ về hành vi xâm phạm theo quy định tại Điều 203 Luật Sở hữu trí tuệ.
Biện pháp dân sự và hình sự thuộc thẩm quyền của Tòa án; biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 200 Luật Sở hữu trí tuệ.
Nghị định 100/2026/NĐ-CP (hiệu lực từ 01/4/2026) sửa đổi, bổ sung Nghị định 65/2023/NĐ-CP, trong đó quy định tự động hóa hoạt động phát hiện, giám sát hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng bằng ứng dụng công nghệ số, phân tích dữ liệu lớn.
Có. Cá nhân, pháp nhân thương mại thực hiện hành vi xâm phạm quyền tác giả có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 212 Luật Sở hữu trí tuệ và Bộ luật Hình sự.
Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật (Cập nhật 2026/08), bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.