Theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Đây là một trong những đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ được pháp luật bảo hộ nhằm khuyến khích hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật, khoa học.
Điểm đáng lưu ý là quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc đăng ký. Theo Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ, đăng ký quyền tác giả là thủ tục không bắt buộc. Nói cách khác, một tác phẩm đã được viết ra, vẽ ra, ghi âm, quay phim... thì quyền tác giả đã hình thành, dù tác giả có đăng ký hay không.
Theo Điều 13 Luật Sở hữu trí tuệ, tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm. Chủ sở hữu quyền tác giả có thể là chính tác giả hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật cho việc sáng tạo tác phẩm theo hợp đồng, hoặc người được chuyển giao, thừa kế quyền tác giả theo quy định của pháp luật.
Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ quy định các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, bao gồm: tác phẩm văn học, nghệ thuật khoa học; tác phẩm phái sinh; tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật, mỹ thuật ứng dụng; tác phẩm kiến trúc; bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, công trình khoa học; chương trình máy tính và sưu tập dữ liệu.
Bên cạnh đó, Điều 15 Luật Sở hữu trí tuệ liệt kê các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả, như: tin tức thời sự thuần túy; văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính và bản dịch chính thức của các văn bản đó; quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu. Như vậy, chỉ phần thể hiện sáng tạo của tác phẩm mới được bảo hộ, còn nội dung thuần túy mang tính thông tin thì không.
Quyền tác giả gồm hai nhóm chính: quyền nhân thân và quyền tài sản.
Quyền nhân thân theo Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm: đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố; bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm. Trừ quyền công bố tác phẩm, các quyền nhân thân gắn liền với tác giả, không thể chuyển nhượng cho người khác.
Quyền tài sản theo Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm: làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn tác phẩm trước công chúng; sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác. Quyền tài sản có thể được chuyển nhượng hoặc chuyển giao quyền sử dụng theo hợp đồng theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.
Như đã nêu, đăng ký quyền tác giả không bắt buộc, nhưng mang lại lợi ích thực tiễn lớn: Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả là căn cứ ban đầu thuận lợi để chứng minh tác giả, chủ sở hữu và thời điểm tác phẩm được thể hiện khi xảy ra tranh chấp.
Theo Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ, hồ sơ đăng ký được nộp tại Cục Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), gồm: tờ khai đăng ký; bản sao tác phẩm; giấy tờ chứng minh quyền nộp đơn; giấy ủy quyền nếu nộp thông qua tổ chức đại diện. Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn hợp lệ, Cục Bản quyền tác giả cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả theo quy định của Nghị định 22/2018/NĐ-CP.
Cần lưu ý, Giấy chứng nhận đăng ký chỉ có giá trị chứng cứ, không phải là căn cứ làm phát sinh quyền tác giả – quyền đã phát sinh từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo (Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ).
Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ quy định thời hạn bảo hộ như sau:
Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ liệt kê các hành vi bị coi là xâm phạm quyền tác giả, như: chiếm đoạt quyền tác giả; mạo danh tác giả; công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép; sao chép tác phẩm trái phép; sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc tác phẩm; sản xuất, nhập khẩu, phân phối bản sao vi phạm quyền tác giả.
Khi bị xâm phạm, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có thể áp dụng các biện pháp sau:
Việc lựa chọn biện pháp xử lý phụ thuộc vào tính chất, mức độ hành vi và mục tiêu của chủ thể quyền: chấm dứt hành vi nhanh chóng, đòi bồi thường thiệt hại, hay răn đe, ngăn chặn tái phạm. Hồ sơ yêu cầu xử lý cần kèm chứng cứ về quyền (bản gốc tác phẩm, giấy chứng nhận đăng ký nếu có) và chứng cứ về hành vi xâm phạm.
Nội dung trên chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức cho từng vụ việc cụ thể.
Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.