Quyền liên quan được bảo hộ cho ba nhóm chủ thể: người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và tổ chức phát sóng, với thời hạn bảo hộ chung là 50 năm. Trả lời ngắn: quyền liên quan phát sinh tự động ngay khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng được định hình hoặc thực hiện, không cần thủ tục đăng ký, theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (50/2005/QH11) được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, mới nhất là Luật 131/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/4/2026.
Theo Điều 17 Luật Sở hữu trí tuệ (được sửa đổi, bổ sung, bao gồm Luật 131/2025/QH15), quyền liên quan gồm quyền của người biểu diễn, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và quyền của tổ chức phát sóng. Khác với quyền tác giả bảo hộ tác giả – người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm, quyền liên quan bảo hộ những người đưa tác phẩm đến với công chúng: ca sĩ, diễn viên thể hiện tác phẩm; công ty thu âm định hình tác phẩm thành bản ghi âm, ghi hình; đài phát thanh, truyền hình phát sóng chương trình.
Quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả (khoản 2 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ). Quyền phát sinh tự động theo sử dụng, không cần đăng ký với cơ quan nhà nước, tương tự cơ chế bảo hộ quyền tác giả.
Tháng 4/2026, Luật 131/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ chính thức có hiệu lực, nằm trong nhóm gần 30 luật mới có hiệu lực trong năm 2026. Cùng với sự bùng nổ của nội dung số (livestream ca nhạc, video cover, phát nhạc trên YouTube, TikTok, Spotify), việc xác định đúng đối tượng và thời hạn bảo hộ quyền liên quan càng trở nên quan trọng với cả người sáng tạo lẫn doanh nghiệp nền tảng.
Đối tượng được bảo hộ quyền liên quan gồm ba nhóm chủ thể tương ứng với ba loại quyền nêu tại Điều 17 Luật Sở hữu trí tuệ:
Điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ quy định người biểu diễn có quyền nhân thân và quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn. Quyền nhân thân gồm quyền giới thiệu tên thật, bút danh khi biểu diễn và quyền bảo vệ sự toàn vẹn của cuộc biểu diễn, không cho người khác sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc gây phương hại đến danh dự, uy tín của người biểu diễn. Quyền tài sản gồm quyền định hình cuộc biểu diễn trực tiếp hoặc gián tiếp, sao chép, phát sóng hoặc truyền đến công chúng, phân phối bản ghi âm, ghi hình cuộc biểu diễn.
Theo Điều 30, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện: sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình của mình; nhập khẩu, phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao thông qua hình thức bán, cho thuê; phát sóng hoặc truyền đạt đến công chúng bản ghi âm, ghi hình; cho thuê thương mại bản ghi âm, ghi hình. Đây là cơ sở để các hãng thu âm, studio sản xuất video yêu cầu gỡ bỏ hoặc khởi kiện các kênh sử dụng lại bản thu âm của họ mà không xin phép.
Điều 31 quy định tổ chức phát sóng có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện: sao chép chương trình phát sóng của mình; phát sóng, tái phát sóng chương trình; phân phối chương trình; cho thuê thương mại bản ghi chương trình phát sóng.
Chủ sở hữu quyền liên quan là tổ chức, cá nhân đầu tư thời gian, tài chính và cơ sở vật chất – kỹ thuật để thực hiện cuộc biểu diễn, sản xuất bản ghi âm, ghi hình hoặc tạo ra chương trình phát sóng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (Điều 44 Luật Sở hữu trí tuệ). Trong thực tế, khi ca sĩ ký hợp đồng độc quyền với công ty giải trí, quyền tài sản thường thuộc về công ty theo thỏa thuận, còn quyền nhân thân thuộc về người biểu diễn.
Điều 34 Luật Sở hữu trí tuệ quy định thời hạn bảo hộ quyền liên quan là 50 năm, cụ thể theo từng đối tượng:
Khi hết thời hạn bảo hộ, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình và chương trình phát sóng được tự do sử dụng. Tuy nhiên, quyền của tác giả đối với tác phẩm gốc vẫn được bảo hộ độc lập theo thời hạn quyền tác giả, nên người sử dụng cần kiểm tra đầy đủ cả hai tầng quyền.
Hành vi sử dụng cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà không được phép của chủ sở hữu quyền liên quan có thể bị xử lý bằng nhiều phương thức: hòa giải, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, khởi kiện dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại, hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan theo Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Pháp luật cũng quy định các trường hợp ngoại lệ được sử dụng mà không cần xin phép như trích dẫn hợp lý, đưa tin thời sự, phục vụ giảng dạy, nghiên cứu, do đó không phải mọi hành vi sử dụng đều cấu thành xâm phạm.
Nếu quyền liên quan của bạn bị xâm phạm hoặc bạn cần rà soát thỏa thuận sử dụng tác phẩm, hãy tham khảo thêm bài viết về bảo hộ quyền tác giả và cách xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên internet. Công ty Luật Minh Bạch tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp và cá nhân trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ; liên hệ hotline 0987 892 333 hoặc email info@luatminhbach.vn.
Không. Quyền liên quan phát sinh tự động kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng được định hình hoặc thực hiện, không cần thủ tục đăng ký (khoản 2 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ).
50 năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình (Điều 34 Luật Sở hữu trí tuệ).
50 năm tính từ năm tiếp theo năm công bố, hoặc từ năm tiếp theo năm định hình nếu bản ghi chưa được công bố trong thời hạn 50 năm kể từ khi định hình (Điều 34).
50 năm tính từ năm chương trình được phát sóng (Điều 34).
Tùy từng trường hợp. Việc cover thường liên quan đến quyền tác giả của tác giả bài hát; nếu sử dụng bản thu âm có sẵn của người khác thì còn liên quan đến quyền của nhà sản xuất bản ghi âm (Điều 30). Cần xin phép, trả tiền bản quyền hoặc thuộc trường hợp ngoại lệ mới được sử dụng mà không xin phép.
Được sử dụng tự do đối với quyền liên quan đã hết thời hạn, nhưng vẫn phải tôn trọng quyền tác giả của tác phẩm gốc nếu thời hạn quyền tác giả chưa kết thúc.
Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Luật sư đánh giá hồ sơ, hướng dẫn xử lý xâm phạm quyền biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình và chương trình phát sóng.