Chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là việc chủ sở hữu nhãn hiệu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác. Theo khoản 1 Điều 138 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (số 50/2005/QH11, đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, bản hợp nhất mới nhất là Văn bản hợp nhất 67/VBHN-VPQH 2026 gồm cả Luật 131/2025/QH15), việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản, gọi là hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp.
Khi chuyển nhượng, chủ sở hữu nhãn hiệu chuyển giao toàn bộ quyền sở hữu đối với nhãn hiệu cho người được chuyển nhượng — người được chuyển nhượng trở thành chủ sở hữu mới của nhãn hiệu, có toàn quyền sử dụng, định đoạt nhãn hiệu trong phạm vi bảo hộ.
Khác với chuyển nhượng (chuyển quyền sở hữu), chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu — gọi là chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp — là việc chủ sở hữu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng nhãn hiệu trong phạm vi quyền sử dụng của mình, theo khoản 1 Điều 141 Luật Sở hữu trí tuệ (bản hợp nhất 67/VBHN-VPQH 2026). Việc chuyển quyền sử dụng phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản (hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp).
Theo Điều 143 Luật Sở hữu trí tuệ, hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp gồm hai dạng chính:
Điều 139 Luật Sở hữu trí tuệ quy định các điều kiện hạn chế việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp, trong đó có các điểm quan trọng đối với nhãn hiệu:
Đối với chuyển quyền sử dụng, Điều 142 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể không được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể; bên được chuyển quyền không được ký kết hợp đồng thứ cấp với bên thứ ba, trừ khi được bên chuyển quyền cho phép; bên được chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu có nghĩa vụ ghi chỉ dẫn trên hàng hóa, bao bì về việc hàng hóa được sản xuất theo hợp đồng sử dụng nhãn hiệu.
Đối với quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở đăng ký (trong đó có nhãn hiệu), theo khoản 1 Điều 148 Luật Sở hữu trí tuệ (bản hợp nhất 67/VBHN-VPQH 2026), hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp chỉ có hiệu lực khi đã được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp, tức Cục Sở hữu trí tuệ.
Với hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, hợp đồng có hiệu lực theo thỏa thuận giữa các bên; tuy nhiên, hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp (trừ hợp đồng sử dụng nhãn hiệu) phải đăng ký mới có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba, theo khoản 2, 3 Điều 148 Luật Sở hữu trí tuệ (đã được sửa đổi bởi Luật 131/2025/QH15 có hiệu lực từ 01/4/2026).
Hồ sơ đăng ký hợp đồng chuyển nhượng, chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp được thực hiện theo Nghị định 65/2023/NĐ-CP hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 100/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 01/4/2026) và Thông tư 10/2026/TT-BKHCN (đã được sửa đổi bởi Thông tư 20/2026/TT-BKHCN từ 01/7/2026), gồm tờ khai đăng ký theo mẫu, hợp đồng chuyển nhượng, chuyển giao và các tài liệu liên quan.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu chỉ có hiệu lực khi được đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ theo khoản 1 Điều 148 Luật Sở hữu trí tuệ. Việc đăng ký hợp đồng chuyển nhượng đồng thời ghi nhận sự thay đổi chủ sở hữu nhãn hiệu trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về sở hữu công nghiệp; Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu được ghi nhận chuyển nhượng sang người được chuyển nhượng.
Thời hạn bảo hộ của nhãn hiệu là 10 năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần 10 năm theo Điều 93 Luật Sở hữu trí tuệ. Việc chuyển nhượng không kéo dài thời hạn bảo hộ — người được chuyển nhượng tiếp tục hưởng quyền bảo hộ trong thời gian còn lại của nhãn hiệu; để duy trì hiệu lực, người được chuyển nhượng phải thực hiện thủ tục gia hạn đúng hạn theo quy định.
Khi chuyển nhượng hoặc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, các bên cần lưu ý:
Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.