Nhãn hiệu tập thể dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của thành viên tổ chức chủ sở hữu với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân ngoài tổ chức; nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng để chứng nhận các đặc tính của hàng hóa, dịch vụ (khoản 17, 18 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi 2022). Cả hai đều phải đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ để được xác lập quyền, và khác biệt cốt lõi so với nhãn hiệu thông thường là đơn đăng ký bắt buộc kèm quy chế sử dụng nhãn hiệu.
Theo khoản 17 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2022), nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên. Thông thường, hiệp hội, hợp tác xã hoặc tổ chức tập thể đứng tên đăng ký, còn việc sử dụng nhãn hiệu thuộc về chính các thành viên theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể. Theo khoản 3 Điều 87, tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình sử dụng.
Theo khoản 18 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2022), nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của mình để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu.
Điểm khác biệt quan trọng: chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận không được tự mình sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó. Theo khoản 4 Điều 87, chỉ tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hóa, dịch vụ mới có quyền đăng ký, với điều kiện tổ chức đó không tiến hành sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu.
Quy chế sử dụng nhãn hiệu là tài liệu bắt buộc trong hồ sơ đăng ký nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận. Căn cứ Điều 68 Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN (hiệu lực 01/4/2026, quy định chi tiết thi hành Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị định 65/2023/NĐ-CP được sửa đổi bởi các Nghị định 15/2026, 33/2026 và 100/2026/NĐ-CP), đơn đăng ký phải kèm quy chế sử dụng nhãn hiệu tương ứng.
Quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể phải có những nội dung chủ yếu sau (Điều 68 Thông tư 10/2026/TT-BKHCN):
Quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể phải nêu: thông tin về nhãn hiệu và hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu; tên, địa chỉ, căn cứ thành lập của tổ chức tập thể là chủ sở hữu; tiêu chuẩn và danh sách thành viên; điều kiện sử dụng nhãn hiệu (nếu nhãn hiệu chứa dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý, phải nêu điều kiện về nguồn gốc địa lý và đặc tính của hàng hóa, dịch vụ); biện pháp xử lý hành vi vi phạm quy chế (Điều 68 Thông tư 10/2026/TT-BKHCN).
Với nhãn hiệu chứng nhận, quy chế phải nêu rõ thông tin về nhãn hiệu và hàng hóa, dịch vụ được chứng nhận; tổ chức là chủ sở hữu; điều kiện để được sử dụng nhãn hiệu (kèm điều kiện nguồn gốc địa lý nếu nhãn hiệu chứa dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý); các đặc tính của hàng hóa, dịch vụ được chứng nhận; phương pháp đánh giá, kiểm soát việc sử dụng nhãn hiệu; chi phí chứng nhận, bảo vệ nhãn hiệu (nếu có).
Ngoài điều kiện chung tại Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ, hai loại nhãn hiệu này còn phải đáp ứng điều kiện riêng:
Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ theo thủ tục đăng ký (điểm a khoản 3 Điều 6). Khi nhiều người cùng đăng ký nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn, văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho nhãn hiệu trong đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất (khoản 2 Điều 90). Cần phân biệt với chỉ dẫn địa lý: quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý của Việt Nam thuộc về Nhà nước, Nhà nước cho phép tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý hoặc tổ chức tập thể đại diện đăng ký (khoản 1 Điều 88).
Theo Điều 68 Thông tư 10/2026/TT-BKHCN, đơn gồm: tờ khai đăng ký nhãn hiệu theo mẫu; mẫu nhãn hiệu kèm theo; quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận; văn bản ủy quyền (nếu nộp qua đại diện); tài liệu chứng minh việc cho phép đăng ký nhãn hiệu chứa địa danh, dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương (khoản 3, 4 Điều 87); tài liệu chứng minh quyền ưu tiên (nếu có).
Trình tự xử lý đơn tại Cục Sở hữu trí tuệ: đơn được tiếp nhận khi có đủ tài liệu tối thiểu và đã nộp phí, lệ phí (Điều 70 Thông tư 10/2026/TT-BKHCN); thẩm định hình thức trong thời hạn một tháng kể từ ngày nộp đơn (khoản 1 Điều 119); đơn được công khai ngay sau khi tiếp nhận (khoản 1a Điều 110) và công bố trong thời hạn một tháng kể từ ngày đơn được coi là hợp lệ (khoản 3 Điều 110); bất kỳ người thứ ba nào cũng có quyền phản đối việc cấp văn bằng bảo hộ trong thời hạn ba tháng kể từ ngày công bố (Điều 112a); đơn hợp lệ được thẩm định nội dung trong thời hạn năm tháng kể từ ngày công bố (điểm b khoản 2 Điều 119). Lưu ý: nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận không thuộc diện thẩm định nội dung nhanh. Nếu đơn không thuộc trường hợp từ chối và người nộp đơn nộp đủ phí, lệ phí, cơ quan quản lý cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu và ghi nhận vào Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp (Điều 118).
Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm (khoản 6 Điều 93).
Từ ngày 01/4/2026, Nghị định 100/2026/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung Nghị định 65/2023/NĐ-CP, hiệu lực cùng Nghị định 15/2026 và 33/2026/NĐ-CP) và Luật số 131/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực, việc quản lý và bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp được siết chặt hơn. Nếu phát hiện hành vi xâm phạm nhãn hiệu, bạn có thể xem thêm hướng dẫn xử lý. Nếu cần hỗ trợ soạn hồ sơ, hãy tham khảo dịch vụ sở hữu trí tuệ của chúng tôi.
Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp (khoản 3 Điều 87 Luật Sở hữu trí tuệ).
Tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ, với điều kiện không sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó (khoản 4 Điều 87).
Đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần, mỗi lần mười năm (khoản 6 Điều 93 Luật Sở hữu trí tuệ).
Có. Đơn phải kèm quy chế sử dụng nhãn hiệu tương ứng (Điều 68 Thông tư 10/2026/TT-BKHCN); đây là tài liệu tối thiểu để đơn được tiếp nhận (Điều 70).
Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có thể bị chấm dứt hiệu lực khi chủ sở hữu vi phạm quy chế hoặc không kiểm soát việc thực hiện quy chế (điểm đ, e khoản 1 Điều 95 Luật Sở hữu trí tuệ).
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.