Theo khoản 12 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ, sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. Sáng chế là một trong những tài sản trí tuệ có giá trị lớn nhất của doanh nghiệp, bởi nó mang lại quyền độc quyền khai thác một giải pháp kỹ thuật trong thời gian dài.
Khác với kiểu dáng công nghiệp (bảo hộ vẻ bên ngoài của sản phẩm) hay quyền tác giả (bảo hộ hình thức thể hiện), sáng chế bảo hộ chính nội dung kỹ thuật – cách một sản phẩm được cấu tạo hoặc một quy trình được thực hiện. Khác với quyền tác giả, quyền đối với sáng chế chỉ phát sinh khi được đăng ký và cấp văn bằng, do đó việc nộp đơn kịp thời là điều kiện tiên quyết để xác lập quyền.
Theo Điều 58 Luật Sở hữu trí tuệ, sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng đủ ba điều kiện: có tính mới, có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp.
Ngoài ra, nếu sáng chế không đáp ứng điều kiện về trình độ sáng tạo nhưng vẫn có tính mới và khả năng áp dụng công nghiệp, người nộp đơn có thể đăng ký dưới hình thức Bằng độc quyền giải pháp hữu ích theo khoản 2 Điều 58 Luật Sở hữu trí tuệ.
Điều 62 Luật Sở hữu trí tuệ quy định các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế:
Như vậy, một ý tưởng kinh doanh, một thuật toán toán học hay chương trình máy tính đơn thuần không được bảo hộ sáng chế; chỉ những giải pháp kỹ thuật có khả năng áp dụng công nghiệp mới thuộc phạm vi bảo hộ.
Hồ sơ đăng ký sáng chế nộp tại Cục Sở hữu trí tuệ gồm: tờ khai đăng ký; bản mô tả sáng chế; bản tóm tắt sáng chế; yêu cầu bảo hộ; bản vẽ, hình vẽ (nếu cần thiết); giấy ủy quyền nếu nộp thông qua đại diện. Trong đó, yêu cầu bảo hộ là tài liệu quan trọng nhất, xác định phạm vi quyền được bảo hộ.
Bản mô tả phải bộc lộ đầy đủ, rõ ràng bản chất kỹ thuật của sáng chế đến mức người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực tương ứng có thể thực hiện được. Thành phần, nội dung cụ thể của đơn được quy định chi tiết tại Nghị định 65/2023/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 100/2026/NĐ-CP).
Quyền đăng ký sáng chế thuộc về tác giả sáng chế hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư cho tác giả (Điều 86 Luật Sở hữu trí tuệ). Theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên (Điều 90), người nộp đơn sớm nhất có đơn hợp lệ được cấp văn bằng. Người nộp đơn có thể hưởng quyền ưu tiên theo Công ước Paris trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày nộp đơn đầu tiên ở nước ngoài (Điều 91).
Trong quá trình thẩm định, người nộp đơn phải trả lời ý kiến của Cục Sở hữu trí tuệ, có thể sửa đổi đơn nhưng không được vượt ra ngoài phạm vi bộc lộ ban đầu, và có quyền khiếu nại các quyết định theo quy định. Các thời hạn nêu trên được quy định chi tiết tại Nghị định 65/2023/NĐ-CP.
Theo Điều 93 Luật Sở hữu trí tuệ, Bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực đến hết 20 năm kể từ ngày nộp đơn; Bằng độc quyền giải pháp hữu ích có hiệu lực đến hết 10 năm kể từ ngày nộp đơn. Đây là thời hạn bảo hộ dài nhất trong các đối tượng sở hữu công nghiệp.
Để duy trì hiệu lực, chủ văn bằng phải nộp lệ phí duy trì hiệu lực hàng năm theo quy định của Nghị định 65/2023/NĐ-CP. Nếu không nộp đúng hạn và không được gia hạn theo quy định, văn bằng sẽ chấm dứt hiệu lực và sáng chế thuộc về công chúng.
Trong thời hạn bảo hộ, chủ văn bằng có quyền độc quyền sử dụng và ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế nếu không được phép (Điều 121, Điều 122 Luật Sở hữu trí tuệ), đồng thời có thể yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm theo các biện pháp hành chính, dân sự hoặc hình sự theo quy định của pháp luật.
Nội dung trên chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức cho từng vụ việc cụ thể.
Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.