Không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là hành vi vi phạm pháp luật, người vi phạm có thể bị Tòa án buộc phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo Điều 119 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (52/2014/QH13). Bài viết phân tích căn cứ pháp lý, trách nhiệm của người không thực hiện cấp dưỡng và cách bảo vệ quyền lợi của con.
Cấp dưỡng là việc người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Đối với quan hệ cha mẹ – con cái, căn cứ pháp lý trực tiếp là Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (52/2014/QH13). Theo đó, cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.
Như vậy, cấp dưỡng nuôi con không phải là việc “giúp đỡ” có tính tự nguyện mà là nghĩa vụ bắt buộc theo luật, gắn với nhu cầu thiết yếu của con như ăn, mặc, ở, học tập, khám chữa bệnh. Nghĩa vụ này không phụ thuộc vào mức độ tình cảm hay quan hệ giữa cha, mẹ sau ly hôn.
Theo Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha, mẹ và con phát sinh khi hội tụ các điều kiện sau:
Sau khi ly hôn, cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con không sống chung với con nên thuộc trường hợp phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng theo Điều 110. Ngoài ra, Điều 115 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 còn quy định: khi ly hôn, nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình.
Về mức cấp dưỡng, Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận, căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Đọc thêm: quyền nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng sau ly hôn.
Người có nghĩa vụ cấp dưỡng cố tình không thực hiện hoặc trốn tránh sẽ phải đối mặt với các trách nhiệm pháp lý sau:
Điều 119 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: người được cấp dưỡng hoặc cha, mẹ, người giám hộ của người đó, cũng như các cơ quan, tổ chức được quy định, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Ngoài ra, cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện hành vi trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện phải thực hiện nghĩa vụ đó.
Về trình tự chung, người có quyền nộp đơn yêu cầu kèm tài liệu, chứng cứ đến Tòa án có thẩm quyền. Tòa án xem xét, tiến hành hòa giải; nếu hòa giải không thành thì giải quyết vụ việc bằng bản án hoặc quyết định. Khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà người có nghĩa vụ vẫn không thực hiện, người được thi hành có thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành.
Trong khuôn khổ Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, hành vi không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được xử lý chủ yếu qua các cơ chế sau:
Lưu ý: các quy định về cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 tập trung vào nghĩa vụ dân sự giữa các bên. Ngoài cơ chế nêu trên, hành vi trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng còn có thể bị xử lý theo các quy định khác của pháp luật có liên quan (xử phạt vi phạm hành chính, trách nhiệm hình sự) nếu thỏa mãn các dấu hiệu vi phạm, tùy theo từng vụ việc cụ thể.
Tham khảo thêm thủ tục ly hôn đơn phương và dịch vụ tư vấn hôn nhân & gia đình của Công ty Luật Minh Bạch.
Bạn có thể nộp đơn yêu cầu Tòa án buộc người đó thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo Điều 119 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; nếu đã có bản án, quyết định có hiệu lực thì yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành.
Pháp luật không quy định mức cố định. Theo Điều 116, mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của con; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định.
Theo Điều 110, cha, mẹ chỉ phải cấp dưỡng cho con chưa thành niên; với con đã thành niên, nghĩa vụ chỉ còn khi con không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Có. Khi có lý do chính đáng, các bên thỏa thuận thay đổi mức cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Việc yêu cầu cấp dưỡng là quyền của người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ theo Điều 119. Tuy nhiên, việc họ không yêu cầu không làm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con theo Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.