Điều 213 Bộ luật Dân sự 2015: Sở hữu chung của vợ chồng | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 213 Bộ luật Dân sự 2015: Sở hữu chung của vợ chồng

Dân sự · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/08
Mục lục:
  1. Khái niệm sở hữu chung của vợ chồng
  2. Tài sản chung và tài sản riêng
  3. Quản lý, định đoạt tài sản chung
  4. Quan hệ với Luật Hôn nhân và Gia đình 2014
  5. Thực tiễn phân chia tài sản khi ly hôn

Điều 213. Sở hữu chung của vợ chồng

Điều 213. Sở hữu chung của vợ chồng

1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia.

2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

3. Vợ chồng thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

4. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án.

5. Trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tài sản chung của vợ chồng được áp dụng theo chế độ tài sản này.

Nguồn: Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13) — Toàn văn tại Luật Minh Bạch

Khái quát sở hữu chung của vợ chồng

Sở hữu chung của vợ chồng theo Điều 213 Bộ luật Dân sự 2015 là hình thức sở hữu chung hợp nhất, trong đó phần quyền sở hữu của mỗi bên không được xác định cụ thể đối với từng tài sản khi quan hệ tài sản chung còn tồn tại. Cơ sở hình thành khối tài sản này cần được đặt trong mối liên hệ với Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung, trừ trường hợp luật có quy định khác.

Đặc điểm cốt lõi của sở hữu chung vợ chồng là quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt phải bảo đảm sự bình đẳng và thỏa thuận giữa hai bên. Khoản 2 Điều 213 Bộ luật Dân sự 2015 ghi nhận việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận của vợ chồng; nội dung này được cụ thể hóa tại các Điều 34, 35, 36 và 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về đăng ký quyền sở hữu, giao dịch liên quan tài sản chung, nghĩa vụ chung. Khi ly hôn hoặc có yêu cầu chia tài sản, nguyên tắc giải quyết tiếp tục căn cứ Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Nội dung Điều 213 BLDS 2015 (các khoản)

Điều 213 Bộ luật Dân sự 2015 xác định sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia. Quy định này đặt nền tảng pháp lý cho việc xác lập, quản lý và xử lý khối tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Về căn cứ hình thành, cần đọc cùng Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, theo đó tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và hoa lợi, lợi tức phát sinh trong thời kỳ hôn nhân về nguyên tắc là tài sản chung, trừ trường hợp luật có quy định khác.

Khoản 1 Điều 213 BLDS 2015 cho phép vợ chồng thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết; khi ly hôn, nguyên tắc chia còn phải tuân theo Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Khoản 2 Điều 213 quy định việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận. Nội dung này thống nhất với Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về định đoạt tài sản chung, đồng thời liên hệ Điều 34 về đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, Điều 36 về tài sản chung đưa vào kinh doanh và Điều 37 về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng.

Tài sản chung vợ chồng theo Luật HN&GĐ 2014

Điều 213 Bộ luật Dân sự 2015 xác định sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất, phù hợp với chế độ tài sản chung tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Theo Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, tài sản chung gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng, cùng tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung, trừ trường hợp luật có quy định khác.

Quyền đối với tài sản chung không chỉ dừng ở xác lập quyền sở hữu, mà còn chi phối việc đăng ký, quản lý, sử dụng, định đoạt. Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định tài sản chung phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Việc định đoạt tài sản chung phải tuân thủ Điều 35, Điều 36 và nghĩa vụ chung theo Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; khi ly hôn, chia tài sản áp dụng Điều 59 Luật này.

Quản lý, định đoạt tài sản chung

Theo khoản 2 Điều 213 Bộ luật Dân sự 2015, việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng phải có sự thỏa thuận của cả hai, vì đây là dạng sở hữu chung hợp nhất. Cơ sở xác định phạm vi tài sản chung nằm ở Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, theo đó tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và hoa lợi, lợi tức phát sinh trong thời kỳ hôn nhân về nguyên tắc là tài sản chung, trừ trường hợp được xác định là tài sản riêng.

Cơ chế quản lý và định đoạt được cụ thể hóa tại Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: vợ chồng bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; với bất động sản, động sản phải đăng ký, tài sản là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình, việc định đoạt phải có sự thỏa thuận bằng ý chí thống nhất của cả hai. Đồng thời, Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đặt ra nguyên tắc đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung; còn khi chia tài sản, Điều 59 Luật này yêu cầu bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi bên và của gia đình, qua đó hạn chế việc một bên tự ý định đoạt làm ảnh hưởng khối tài sản chung.

Phân chia tài sản chung khi ly hôn

Theo khoản 1 và khoản 2 Điều 213 Bộ luật Dân sự 2015, sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất, vợ chồng có quyền thỏa thuận phân chia hoặc yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung; việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận của cả hai bên. Khi ly hôn, khối tài sản được xem xét trước hết theo phạm vi tài sản chung quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn không mặc nhiên là chia đôi tuyệt đối. Khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định Tòa án tính đến hoàn cảnh gia đình, công sức đóng góp, lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ vợ chồng và bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh, nghề nghiệp. Với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có ý nghĩa xác định chủ thể đứng tên; việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung tiếp tục phải đối chiếu Điều 35, Điều 36 và nghĩa vụ liên quan tại Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Lưu ý khi áp dụng

  • Xác định đúng phạm vi tài sản chung theo Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; không mặc nhiên coi mọi tài sản đứng tên một bên là tài sản riêng.
  • Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung phải có thỏa thuận của vợ chồng theo khoản 2 Điều 213 BLDS 2015 và Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
  • Khi có tranh chấp, cần phân biệt chia trong thời kỳ hôn nhân với chia khi ly hôn; nguyên tắc chia khi ly hôn áp dụng theo Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
  • Tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng cần lưu ý chứng cứ đăng ký theo Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp