Người chưa thành niên (dưới 18 tuổi) cần người giám hộ khi không còn cha mẹ, không xác định được cha mẹ, hoặc cha mẹ không đủ điều kiện chăm sóc, giáo dục con theo Điều 47 Bộ luật Dân sự 2015. Bài viết hướng dẫn cách xác định người giám hộ đương nhiên, thủ tục cử, đăng ký giám hộ và quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
Điều 46 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được UBND cấp xã cử, được Tòa án chỉ định (gọi chung là người giám hộ) để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (gọi chung là người được giám hộ). Một người chỉ có thể có một người giám hộ, trừ trường hợp cha, mẹ cùng giám hộ cho con hoặc ông, bà cùng giám hộ cho cháu (khoản 2 Điều 47).
Điều 47 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người được giám hộ gồm: người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ; người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con, hoặc đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ; người mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi. Người chưa thành niên cần người giám hộ khi thuộc một trong hai nhóm sau (điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Dân sự 2015):
Khi người chưa thành niên còn cha hoặc mẹ và người đó có đủ điều kiện chăm sóc, giáo dục con thì cha hoặc mẹ là người đại diện hợp pháp, con không cần giám hộ. Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con chưa thành niên được quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Điều 52 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên được xác định theo thứ tự sau:
Cá nhân làm người giám hộ phải đáp ứng điều kiện tại Điều 49 Bộ luật Dân sự 2015: có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có tư cách đạo đức tốt và điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ; không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị kết án chưa được xóa án tích về tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác.
Khi người chưa thành niên không có người giám hộ đương nhiên, Điều 54 Bộ luật Dân sự 2015 quy định UBND cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ. Việc cử phải được sự đồng ý của người được cử và lập thành văn bản ghi rõ: lý do cử, quyền, nghĩa vụ cụ thể của người giám hộ, tình trạng tài sản của người được giám hộ. Có tranh chấp về người giám hộ thì Tòa án chỉ định; với người chưa thành niên từ đủ 06 tuổi trở lên phải xem xét nguyện vọng của người này.
Việc giám hộ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về hộ tịch (khoản 3 Điều 46 Bộ luật Dân sự 2015). Thủ tục đăng ký giám hộ thực hiện tại UBND cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ hoặc người giám hộ theo Nghị định 23/2015/NĐ-CP về đăng ký hộ tịch. Người giám hộ đương nhiên không đăng ký việc giám hộ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của người giám hộ. Ngoài ra, theo Điều 51, người giám sát việc giám hộ liên quan đến quản lý tài sản của người được giám hộ phải đăng ký tại UBND cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ.
Nghĩa vụ của người giám hộ được quy định tại Điều 55, 56 Bộ luật Dân sự 2015, tùy theo độ tuổi của người được giám hộ:
Quyền của người giám hộ tại Điều 58: sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho nhu cầu thiết yếu; được thanh toán chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản; đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
Điều 59 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người giám hộ phải quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình, được thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ. Các quy định quan trọng nhằm bảo vệ tài sản của người chưa thành niên:
Cơ chế người giám sát việc giám hộ (Điều 51) giúp người thân theo dõi, kiểm tra việc quản lý tài sản của người giám hộ, hạn chế tình trạng lạm dụng tài sản của trẻ, là kênh bảo vệ quan trọng khi có tranh chấp giữa những người thân về việc giám hộ.
Điều 62 Bộ luật Dân sự 2015 quy định việc giám hộ chấm dứt trong các trường hợp sau:
Khi chấm dứt giám hộ, người giám hộ có trách nhiệm thanh toán tài sản, chuyển giao quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự vì lợi ích của người được giám hộ cho người được giám hộ, cha mẹ hoặc người thừa kế theo quy định tại Điều 63. Thủ tục chấm dứt việc giám hộ thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch (khoản 2 Điều 62). Trường hợp người giám hộ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ giám hộ, người giám hộ có thể bị thay đổi theo Điều 60 Bộ luật Dân sự 2015.
Không. Nếu còn cha hoặc mẹ và người đó có đủ điều kiện chăm sóc, giáo dục con thì cha hoặc mẹ là người đại diện hợp pháp, con chưa thành niên không cần người giám hộ. Giám hộ chỉ đặt ra khi người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc cha, mẹ không đủ điều kiện chăm sóc, giáo dục con (Điều 47 Bộ luật Dân sự 2015).
Theo thứ tự tại Điều 52 Bộ luật Dân sự 2015: anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả; nếu không có thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; nếu không có thì bác, chú, cậu, cô, dì ruột làm người giám hộ.
Không tùy tiện. Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho vay, cầm cố, thế chấp... đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ; người giám hộ không được tặng cho tài sản của người được giám hộ (Điều 59 Bộ luật Dân sự 2015).
Việc giám hộ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo pháp luật về hộ tịch (khoản 3 Điều 46 Bộ luật Dân sự 2015), thực hiện tại UBND cấp xã theo Nghị định 23/2015/NĐ-CP.
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư tư vấn và hỗ trợ thủ tục.