Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài khi vụ việc thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 469, Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đặc biệt là vụ ly hôn có nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam. Bài viết phân tích căn cứ xác định thẩm quyền, thủ tục và cách xử lý con, tài sản khi ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Ly hôn có yếu tố nước ngoài là việc giải quyết ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam, giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau hoặc với người nước ngoài. Theo khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ có ít nhất một bên là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ giữa các bên là công dân Việt Nam nhưng căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan ở nước ngoài. Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 định nghĩa tương tự tại Điều 464.
Như vậy, vụ ly hôn được coi là "có yếu tố nước ngoài" khi ít nhất một bên là người nước ngoài, một bên là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, hoặc hôn nhân được xác lập ở nước ngoài dù cả hai là công dân Việt Nam.
Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định tại Mục 1 Chương XXXVI Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, cụ thể:
Khi xác định được thẩm quyền của Tòa án Việt Nam nói chung, Tòa án áp dụng Chương III BLTTDS 2015 để xác định Tòa án cụ thể có thẩm quyền (cấp huyện hay cấp tỉnh). Vụ việc có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, hoặc cần ủy thác tư pháp ra nước ngoài, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh (khoản 3 Điều 35, điểm đ khoản 1 Điều 37 BLTTDS 2015).
Về pháp luật áp dụng, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định: việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.
Khi một bên là công dân Việt Nam nhưng không thường trú tại Việt Nam tại thời điểm yêu cầu ly hôn, khoản 2 Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam. Khoản 3 Điều 127 quy định tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.
Về thẩm quyền Tòa án, căn cứ điểm d khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015, vụ ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam, dù đương sự đang ở nước ngoài. Tòa án Việt Nam vẫn thụ lý khi nguyên đơn là công dân Việt Nam khởi kiện ly hôn với người nước ngoài đang ở nước ngoài.
Người khởi kiện nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi nguyên đơn cư trú (vụ có đương sự ở nước ngoài thuộc thẩm quyền cấp tỉnh). Hồ sơ gồm: giấy tờ tùy thân, đăng ký kết hôn, giấy khai sinh của con, giấy tờ chứng minh tài sản chung; giấy tờ do cơ quan nước ngoài cấp phải được hợp pháp hóa lãnh sự và dịch tiếng Việt có công chứng (Điều 478 BLTTDS 2015).
Ủy thác tư pháp là thủ tục bắt buộc khi cần tống đạt văn bản tố tụng hoặc thu thập chứng cứ ở nước ngoài. Theo Điều 474 và Điều 475 BLTTDS 2015, việc tống đạt, thông báo văn bản tố tụng và thu thập chứng cứ ở nước ngoài được thực hiện theo các phương thức sau:
Về thời hạn, vụ án có đương sự ở nước ngoài không chịu thời hạn chuẩn bị xét xử thông thường; phiên họp hòa giải phải được mở sớm nhất 06 tháng và chậm nhất 08 tháng, phiên tòa phải được mở sớm nhất 09 tháng và chậm nhất 12 tháng kể từ ngày ra thông báo thụ lý (Điều 476 BLTTDS 2015). Người nộp đơn cần nộp tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài (Điều 152 BLTTDS 2015); trong vụ ly hôn, nguyên đơn phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài không phụ thuộc việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu (khoản 3 Điều 153 BLTTDS 2015).
Việc giải quyết quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con sau ly hôn, chia tài sản chung, nghĩa vụ cấp dưỡng trong vụ án có yếu tố nước ngoài được thực hiện theo quy định chung của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, áp dụng cho cả quan hệ có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc tại Điều 122 của Luật này.
Trước khi nộp đơn ly hôn có yếu tố nước ngoài, bạn nên hiểu rõ vụ việc của đương sự ở nước ngoài ảnh hưởng thế nào đến thẩm quyền, thời gian giải quyết và chi phí. Tham khảo thêm bài ly hôn đơn phương và chia tài sản khi ly hôn để chuẩn bị hồ sơ đầy đủ.
Nếu ly hôn được giải quyết ở nước ngoài mà một bên là công dân Việt Nam, hoặc bản án của Tòa án nước ngoài cần được công nhận tại Việt Nam (để đăng ký kết hôn lại, xử lý tài sản ở Việt Nam), phải thực hiện thủ tục yêu cầu công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài theo các Điều 423-425 BLTTDS 2015.
Bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam nếu có đủ điều kiện, thường dựa trên điều ước quốc tế giữa Việt Nam và nước đó hoặc nguyên tắc có đi có lại. Nếu không có thỏa thuận quốc tế, việc công nhận khó khăn hơn — cần luật sư đánh giá từng trường hợp cụ thể.
Có, trong trường hợp cả hai là người nước ngoài nhưng cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam, vụ việc ly hôn thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam (điểm d khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015).
Vẫn có thể ly hôn. Người ở nước ngoài có thể ủy quyền cho người thân hoặc luật sư tại Việt Nam thực hiện thủ tục, Tòa án tiến hành tống đạt, thông báo theo Điều 474 BLTTDS 2015 và có thể xét xử vắng mặt theo Điều 477 khi đương sự có đơn đề nghị.
Không. Cần làm thủ tục yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài tại Tòa án Việt Nam theo Điều 423-425 BLTTDS 2015.
Gồm án phí ly hôn theo quy định và chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài; trong vụ ly hôn nguyên đơn chịu chi phí ủy thác tư pháp không phụ thuộc việc Tòa án chấp nhận hay không (khoản 3 Điều 153 BLTTDS 2015).
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.