Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại là trường hợp cơ quan có thẩm quyền chỉ được khởi tố vụ án khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại. Quy định này hiện được ghi nhận tại Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (BLTTHS) theo văn bản hợp nhất mới nhất.
Đây là cơ chế đặc thù trong tố tụng hình sự Việt Nam: với một số tội phạm xâm phạm chủ yếu đến quyền, lợi ích cá nhân của người bị hại (danh dự, nhân phẩm, sức khỏe, một số quan hệ gia đình, tài sản riêng...), Nhà nước trao cho bị hại quyền quyết định xem hành vi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không, thông qua yêu cầu khởi tố.
Nếu bị hại hoặc người đại diện hợp pháp không có yêu cầu khởi tố thì vụ án không được khởi tố. Đây là một trong các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự được quy định tại khoản 8 Điều 157 BLTTHS.
Cần phân biệt với khởi tố vụ án hình sự thông thường: đa số tội phạm đều bị khởi tố theo quy định của pháp luật khi có dấu hiệu tội phạm, không phụ thuộc ý chí của bị hại.
Theo khoản 1 Điều 155 BLTTHS (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 02/2021/QH15, hiệu lực 01/12/2021), chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại. Danh mục cụ thể:
Như vậy, các tội thuộc nhóm được khởi tố theo yêu cầu của bị hại chủ yếu liên quan đến: sức khỏe (các hành vi gây thương tích mức độ nhẹ), danh dự - nhân phẩm (làm nhục, vu khống), và một số tội xâm phạm tình dục ở cấu thành cơ bản. Danh mục này được xác định theo Bộ luật Hình sự hiện hành, tham khảo Bộ luật Hình sự (văn bản hợp nhất 2017) kết hợp Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự số 86/2025/QH15 (hiệu lực 01/07/2025).
Điều kiện để khởi tố theo yêu cầu của bị hại (khoản 1 Điều 155 BLTTHS):
Việc xác định chính xác tội danh (thuộc nhóm khởi tố theo yêu cầu hay không, thuộc khoản nào) cần được đánh giá trên hồ sơ, chứng cứ cụ thể. Nếu khởi tố sai tội danh, Cơ quan điều tra phải ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án theo Điều 156 BLTTHS.
Quy trình khởi tố và tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm được trình bày chi tiết tại bài Khởi tố vụ án hình sự: thủ tục và căn cứ.
Người đã yêu cầu khởi tố có quyền rút yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ án. Theo khoản 2 Điều 155 BLTTHS:
Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức.
Việc rút yêu cầu phải thể hiện bằng văn bản, do chính người đã yêu cầu khởi tố thực hiện và tự nguyện. Nếu việc rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức (ví dụ người phạm tội hoặc người khác đe dọa, ép rút) thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng.
Do hậu quả không thể yêu cầu lại, bị hại cần cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định rút yêu cầu khởi tố, tránh việc rút trong tâm thế bị đe dọa, hứa hẹn không thành hiện thực, sau đó không thể khởi tố tiếp.
Về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và các trường hợp vụ án bị đình chỉ, bạn đọc có thể tham khảo bài Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự: quy định và cách tính.
Trong bối cảnh tội phạm mạng, lừa đảo qua mạng ngày càng gia tăng, cần lưu ý: đa số hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) và trộm cắp tài sản không thuộc nhóm khởi tố theo yêu cầu — các vụ việc này sẽ được khởi tố theo quy định chung khi có dấu hiệu tội phạm, không phụ thuộc ý chí bị hại. Nhóm khởi tố theo yêu cầu chủ yếu bao trùm các hành vi xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và một số trường hợp xâm phạm tình dục ở cấu thành cơ bản.
Nếu bạn là bị hại và cần luật sư hỗ trợ soạn yêu cầu khởi tố, theo dõi vụ việc hoặc bảo vệ quyền lợi khi rút yêu cầu, hãy gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư hướng dẫn thủ tục khởi tố, rút yêu cầu và bồi thường.