Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) (sửa đổi 2017), với khung hình phạt cao nhất lên đến 20 năm tù khi tài sản chiếm đoạt từ 500 triệu đồng trở lên. Đây là tội phát sinh từ quan hệ hợp đồng (vay, mượn, thuê tài sản), khi người đã nhận tài sản hợp pháp rồi dùng thủ đoạn gian dối, bỏ trốn hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp để chiếm đoạt.
Theo Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) (sửa đổi 2017), tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi của người đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng, sau đó chiếm đoạt tài sản đó.
Điểm đặc trưng của tội này là người phạm tội đã chiếm hữu tài sản một cách hợp pháp tại thời điểm nhận tài sản, sau đó mới chiếm đoạt. Khác với trộm cắp hay cướp giật, tài sản nằm trong sự quản lý của chính người phạm tội (người vay, mượn, thuê), nên hành vi chiếm đoạt diễn ra sau đó qua các thủ đoạn như bỏ trốn, dùng thủ đoạn gian dối hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp.
Chủ thể là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự (người từ đủ 16 tuổi trở lên), có năng lực trách nhiệm hình sự và đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Người chưa đủ 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này theo quy định về độ tuổi của Bộ luật Hình sự.
Theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) (sửa đổi 2017), hành vi phạm tội gồm một trong các dạng sau:
Giá trị tài sản là dấu hiệu định lượng quan trọng. Theo khoản 1 Điều 175, hành vi bị truy cứu khi tài sản chiếm đoạt có giá trị từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng thuộc các trường hợp quy định tại khoản này (như đã bị xử lý về hành vi chiếm đoạt tài sản, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại).
Người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý: nhận thức rõ tài sản là của người khác, nhận thức rõ hành vi của mình sẽ dẫn đến việc không trả lại tài sản và mong muốn chiếm đoạt tài sản đó.
Căn cứ Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) (sửa đổi 2017), tội phạm được xác định trong các trường hợp điển hình sau:
Lưu ý: không phải mọi trường hợp vay nợ không trả đều là tội phạm. Nếu người vay gặp khó khăn, mất khả năng tài chính nhưng không gian dối, không bỏ trốn thì quan hệ này thường thuộc lĩnh vực dân sự, giải quyết bằng khởi kiện đòi tài sản; chỉ khi có dấu hiệu chiếm đoạt theo Điều 175 thì mới chuyển sang trách nhiệm hình sự.
Căn cứ các khoản của Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) (sửa đổi 2017), khung hình phạt được chia theo các trường hợp sau:
Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) (sửa đổi 2017).
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175) và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) sửa đổi 2017) đều xâm phạm quyền sở hữu tài sản nhưng khác nhau ở điểm cốt lõi: thời điểm xuất hiện ý định chiếm đoạt.
Ví dụ: nếu A vay tiền của B để mua nhà nhưng lại đánh bạc hết rồi bỏ trốn, A có thể bị truy cứu theo Điều 175. Nếu A tự giới thiệu là cán bộ khiến B tin tưởng đưa tiền rồi chiếm đoạt, hành vi thuộc mặt khách quan của tội lừa đảo theo Điều 174. Việc định tội danh cuối cùng do cơ quan tố tụng đánh giá trên hồ sơ cụ thể.
Trong bối cảnh tội phạm chiếm đoạt tài sản diễn biến phức tạp – từ lừa đảo trực tuyến đến chiếm đoạt trong các giao dịch nhà đất – Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 30/CT-TTg (31/7/2026) về phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Bộ Công an liên tiếp khởi tố nhiều vụ án liên quan. Người bị chiếm đoạt tài sản nên thực hiện ngay:
Nếu vụ việc thuần túy dân sự, việc khởi kiện đòi tài sản tại Tòa án vẫn là quyền của bạn; khi có dấu hiệu bỏ trốn, gian dối hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp, cần cân nhắc tố giác hình sự sớm. Tham khảo dịch vụ tư vấn và đại diện bảo vệ quyền lợi của Công ty Luật Minh Bạch.
Theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) (sửa đổi 2017), người có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản từ 4.000.000 đồng trở lên (hoặc dưới mức này nhưng thuộc trường hợp quy định) bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Không phải mọi trường hợp vay nợ không trả đều là tội phạm. Chỉ khi người vay dùng thủ đoạn gian dối, bỏ trốn hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại thì mới cấu thành tội theo Điều 175.
Khung hình phạt cao nhất là phạt tù từ 10 năm đến 20 năm khi tài sản chiếm đoạt từ 500.000.000 đồng trở lên, theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) (sửa đổi 2017).
Điểm khác cốt lõi là thời điểm nảy sinh ý định chiếm đoạt: lừa đảo (Điều 174) là người bị hại bị lừa dối ngay từ đầu và tự giao tài sản; lạm dụng tín nhiệm (Điều 175) là người phạm tội nhận tài sản hợp pháp theo hợp đồng rồi mới chiếm đoạt.
Bạn nộp đơn tố giác kèm chứng cứ đến Cơ quan điều tra nơi xảy ra hành vi chiếm đoạt hoặc nơi người vi phạm cư trú, đồng thời giữ chứng cứ về hợp đồng, chuyển khoản và mọi trao đổi liên quan.
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.