Cho thuê lại quyền sử dụng đất là việc người đang thuê đất cho người khác thuê lại quyền sử dụng đất của mình để nhận tiền thuê. Quyền này chỉ được thực hiện khi đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 27, Điều 33, Điều 37 và Điều 45 Luật Đất đai 2024 (31/2024/QH15).
Cho thuê lại quyền sử dụng đất là giao dịch bên đang thuê đất chuyển giao quyền sử dụng đất đó cho bên thứ ba hưởng dụng trong một thời hạn để nhận tiền thuê, được quy định chung tại Điều 27 Luật Đất đai 2024 về các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất.
Khác với cho thuê (người sử dụng đất gốc cho người khác thuê chính quyền sử dụng đất của mình), cho thuê lại là giao dịch do người đang thuê đất thực hiện. Không phải ai đang thuê đất cũng được cho thuê lại — quyền này phụ thuộc vào chủ thể và hình thức thuê.
Theo Điều 45 Luật Đất đai 2024, người sử dụng đất được thực hiện quyền cho thuê, cho thuê lại khi có đủ điều kiện:
Tùy thuộc đối tượng sử dụng đất và hình thức thuê:
Đặc thù: chủ đầu tư được Nhà nước cho thuê đất trả tiền hằng năm để thực hiện dự án xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng được cho thuê lại quyền sử dụng đất và phải đăng ký biến động theo Điều 133 Luật Đất đai 2024. Trước khi giao dịch, nên rà soát nguồn gốc đất tại Giấy chứng nhận, quyết định giao đất, cho thuê đất; tham khảo thêm bài cho thuê quyền sử dụng đất hoặc nhờ luật sư của Công ty Luật Minh Bạch rà soát hồ sơ.
Theo khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai 2024, hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên (không bắt buộc), trừ khi một bên hoặc các bên là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản thì thực hiện theo pháp luật về kinh doanh bất động sản. Hợp đồng còn chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự 2015 về hợp đồng thuê tài sản.
Nội dung cần bảo đảm: thông tin thửa đất (số thửa, diện tích, Giấy chứng nhận, nguồn gốc đất thuê); thời hạn thuê lại không vượt quá thời hạn còn lại của hợp đồng thuê gốc; mục đích sử dụng đất đúng giấy tờ; giá thuê, phương thức thanh toán; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm vi phạm của các bên; điều khoản chấm dứt khi hợp đồng gốc chấm dứt hoặc đất bị thu hồi. Dù không bắt buộc, các bên nên công chứng, chứng thực để giảm rủi ro tranh chấp.
Theo Điều 133 Luật Đất đai 2024, trường hợp phải đăng ký biến động đất đai gồm cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất trong dự án xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng. Với trường hợp này:
Với cho thuê, cho thuê lại ngoài dự án kết cấu hạ tầng (ví dụ hộ gia đình, cá nhân cho thuê đất nông nghiệp), pháp luật không bắt buộc đăng ký biến động; tuy nhiên nên lưu giữ hợp đồng công chứng, chứng thực và kiểm tra quy định địa phương.
Bối cảnh cập nhật: Nghị định 281/2026/NĐ-CP ban hành 13/7/2026, hiệu lực từ 31/8/2026, siết chặt xử lý hành vi không đăng ký biến động đất đai; Nghị quyết 21-NQ/TW (28/7/2026) đặt định hướng sửa đổi Luật Đất đai. Doanh nghiệp, hộ gia đình cho thuê lại đất nên cập nhật quy định mới trước khi giao dịch.
Quyền bị hạn chế: chỉ được cho thuê lại trong trường hợp luật định. Cần đối chiếu khoản 2 Điều 37 Luật Đất đai 2024 và hồ sơ cụ thể để xác định.
Không. Theo khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai 2024, hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất được công chứng, chứng thực theo yêu cầu, trừ khi một bên là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản. Tuy nhiên nên công chứng để bảo đảm giá trị pháp lý.
Chỉ các trường hợp thuộc diện phải đăng ký theo Điều 133 Luật Đất đai 2024 (đáng chú ý là dự án xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng) mới bị xử phạt, theo Nghị định 281/2026/NĐ-CP (hiệu lực 31/8/2026), mức phạt từ 2 đến 3 triệu đồng.
Không vượt quá thời hạn còn lại của hợp đồng thuê gốc; nên ghi rõ điều khoản chấm dứt khi hợp đồng gốc chấm dứt hoặc đất bị thu hồi.
Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật (15/08/2026), gồm Luật Đất đai 2024 (31/2024/QH15) - Điều 27, 33, 37, 45, 133; Nghị định 101/2024/NĐ-CP - Điều 22, 30; Nghị định 281/2026/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 123/2024/NĐ-CP; Bộ luật Dân sự 2015.
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.