Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ khi sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc quốc gia tương ứng và có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực đó quyết định. Bài viết trình bày điều kiện bảo hộ, chủ thể có quyền đăng ký và quy trình đăng ký chỉ dẫn địa lý theo Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành (sửa đổi bởi Luật số 131/2025/QH15, hiệu lực từ 01/4/2026).
Theo khoản 22 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ, chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc quốc gia cụ thể, thường là tên địa danh gắn với sản phẩm đặc sản của vùng. Chỉ dẫn địa lý là đối tượng quyền sở hữu công nghiệp (khoản 2 Điều 3), gắn với nguồn gốc địa lý của sản phẩm và là tài sản chung của cộng đồng sản xuất tại khu vực địa lý tương ứng, không thuộc sở hữu riêng của cá nhân, tổ chức nào như nhãn hiệu.
Điều kiện bảo hộ chỉ dẫn địa lý được quy định tại Điều 79 Luật Sở hữu trí tuệ (văn bản hợp nhất 2026). Theo đó, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ nếu sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý (i) có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc quốc gia tương ứng với chỉ dẫn địa lý; và (ii) có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực đó quyết định. Chỉ dẫn địa lý đồng âm vẫn được bảo hộ nếu sử dụng trên thực tế không gây nhầm lẫn về nguồn gốc địa lý và bảo đảm đối xử công bằng giữa các tổ chức, cá nhân sản xuất (khoản 2 Điều 79).
Các điều kiện liên quan được giải thích cụ thể:
Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa chỉ dẫn địa lý (Điều 80) gồm: tên gọi, chỉ dẫn đã trở thành tên gọi chung của hàng hóa theo nhận thức của người tiêu dùng trên lãnh thổ Việt Nam; chỉ dẫn địa lý của nước ngoài không được bảo hộ, đã bị chấm dứt bảo hộ hoặc không còn được sử dụng; chỉ dẫn trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu đang được bảo hộ và dễ gây nhầm lẫn về nguồn gốc sản phẩm; chỉ dẫn gây hiểu sai lệch cho người tiêu dùng về nguồn gốc địa lý thực của sản phẩm.
Quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý được quy định tại Điều 88 Luật Sở hữu trí tuệ: quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý của Việt Nam thuộc về Nhà nước. Nhà nước cho phép tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý; tổ chức tập thể đại diện cho các tổ chức, cá nhân đó; hoặc cơ quan quản lý hành chính địa phương nơi có chỉ dẫn địa lý thực hiện quyền đăng ký.
Chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý của Việt Nam là Nhà nước (khoản 4 Điều 121). Nhà nước trao quyền sử dụng cho tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý tại địa phương tương ứng; trực tiếp quản lý hoặc trao quyền quản lý cho tổ chức đại diện quyền lợi của các tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng.
Điểm mới theo Luật số 131/2025/QH15 (hiệu lực 01/4/2026): Luật sửa đổi Điều 88 và Điều 97 về quyền đăng ký, sửa đổi văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý, giao Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn chi tiết. Đơn được xử lý theo thủ tục mới tại Nghị định 65/2023/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 100/2026/NĐ-CP) và Thông tư 10/2026/TT-BKHCN.
Đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý nộp tại Cục Sở hữu trí tuệ (hoặc Văn phòng đại diện tại TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng) hoặc nộp trực tuyến. Trình tự xử lý đơn theo Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi 2025) và Nghị định 65/2023/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 100/2026/NĐ-CP):
Hồ sơ đăng ký theo mẫu và yêu cầu tại Thông tư 10/2026/TT-BKHCN (thay thế Thông tư 23/2023/TT-BKHCN). Do chỉ dẫn địa lý đòi hỏi bản mô tả tính chất, chất lượng đặc thù và bản đồ khu vực địa lý, hồ sơ thường phức tạp hơn hồ sơ đăng ký nhãn hiệu.
Lưu ý: Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ vô thời hạn kể từ ngày cấp văn bằng, trừ khi bị chấm dứt hoặc hủy bỏ hiệu lực — khác với nhãn hiệu/sáng chế có thời hạn.
Theo khoản 7 Điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ, sử dụng chỉ dẫn địa lý bao gồm: gắn chỉ dẫn địa lý lên hàng hóa, bao bì, phương tiện kinh doanh, giấy tờ giao dịch; lưu thông, chào bán, quảng cáo, tàng trữ để bán hàng hóa mang chỉ dẫn địa lý; nhập khẩu hàng hóa mang chỉ dẫn địa lý được bảo hộ.
Quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý không thuộc về riêng một chủ thể nào mà do Nhà nước trao cho tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý tại địa phương tương ứng và đưa sản phẩm ra thị trường (khoản 4 Điều 121). Tổ chức được trao quyền sử dụng hoặc quản lý có quyền ngăn cấm người khác sử dụng xâm phạm (khoản 2 Điều 123, Điều 125).
Các hành vi xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý (khoản 3 Điều 129) gồm: sử dụng chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm không đáp ứng tiêu chuẩn về tính chất, chất lượng đặc thù; sử dụng cho sản phẩm tương tự nhằm lợi dụng danh tiếng; sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây hiểu sai nguồn gốc địa lý; sử dụng chỉ dẫn địa lý cho rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ tương ứng.
Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật (12/08/2026), bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.