Điều 6. Căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ
1. Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.
2. Quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu cáp mang chương trình được mã hóa, 25 tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả.
3. Quyền sở hữu công nghiệp được xác lập như sau: a) Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký. Quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 83 Điều 1 của Luật số 07/2022/QH sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2023. Cụm từ “tín hiệu cáp mang chương trình được mã hóa,” được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 71 Điều 1 của Luật số 131/2025/QH sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm
2026. Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật số 42/2019/QH sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 11 năm
2019. đăng ký quy định tại Luật này hoặc theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; b) Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó; c) Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó; d) Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được xác lập trên cơ sở hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh.
4. Quyền đối với giống cây trồng được xác lập trên cơ sở quyết định cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này.
… (trích một phần)
Nguồn: Xem Điều 6 (toàn văn)
Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ (văn bản hợp nhất năm 2026) quy định về “căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ” — điều luật nền tảng xác định thời điểm và cơ chế hình thành quyền đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ. Đây là điểm khởi đầu bắt buộc phải nắm vững khi xác định chủ thể quyền, phạm vi bảo hộ và chiến lược bảo vệ quyền, bởi mỗi đối tượng sở hữu trí tuệ có một cơ chế phát sinh, xác lập khác nhau.
Về cơ bản, Điều 6 phân biệt hai nhóm cơ chế:
Bên cạnh đó, Điều 6 còn ghi nhận cơ chế xác lập trên cơ sở sử dụng đối với nhãn hiệu nổi tiếng, tên thương mại, bí mật kinh doanh, hoặc trên cơ sở hoạt động cạnh tranh đối với quyền chống cạnh tranh không lành mạnh (điểm a, b, c, d khoản 3). Ngoài ra, khoản 5 Điều 6 được bổ sung theo Luật số 131/2025/QH15 (hiệu lực từ ngày 01/4/2026) giao Chính phủ quy định việc phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với đối tượng được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo — một tín hiệu pháp lý quan trọng trong bối cảnh AI ngày càng tham gia sâu vào quá trình sáng tạo.
Theo khoản 1 Điều 6, quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. Điều này có nghĩa: chỉ cần một bài thơ được viết ra giấy, một đoạn nhạc được thu âm, một phần mềm được lưu trên ổ cứng — quyền tác giả đã phát sinh ngay lập tức, dù tác giả chưa làm bất kỳ thủ tục nào.
Điều 18 Luật Sở hữu trí tuệ quy định quyền tác giả đối với tác phẩm bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Quyền nhân thân (Điều 19) gồm: đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố; bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác xuyên tạc, sửa đổi, cắt xén gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả. Quyền tài sản (Điều 20) bao gồm các quyền độc quyền như làm tác phẩm phái sinh, biểu diễn, sao chép, phân phối, phát sóng, truyền đạt đến công chúng và cho thuê bản gốc, bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.
Theo Điều 27, các quyền nhân thân như đặt tên, đứng tên, bảo vệ sự toàn vẹn được bảo hộ vô thời hạn; còn quyền công bố tác phẩm và quyền tài sản có thời hạn bảo hộ: 75 năm kể từ khi tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh được công bố lần đầu, hoặc suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết đối với các loại hình khác.
Khoản 2 Điều 6 quy định quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu cáp mang chương trình được mã hóa, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả. Quyền liên quan thuộc về người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng, v.v. Như vậy, quyền liên quan cũng phát sinh tự động, không phụ thuộc đăng ký, nhưng phải tôn trọng quyền tác giả nền tảng — ví dụ nhà sản xuất bản ghi âm không thể khai thác cuộc biểu diễn khi chưa được phép của tác giả bài hát hoặc người biểu diễn.
Khác với quyền tác giả, hầu hết quyền sở hữu công nghiệp chỉ được xác lập thông qua thủ tục đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cụ thể theo khoản 3 Điều 6:
Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này, hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý cũng được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ theo thủ tục đăng ký hoặc theo điều ước quốc tế.
Điều này có ý nghĩa thực tiễn rất lớn: nếu không nộp đơn đăng ký, một sáng chế hoặc nhãn hiệu dù được tạo ra, sử dụng lâu dài cũng không tự động được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam (trừ nhãn hiệu nổi tiếng và tên thương mại theo quy định riêng). Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên còn đặt ra yêu cầu cạnh tranh về thời điểm nộp đơn giữa các chủ thể quan tâm đến cùng đối tượng.
Điểm c khoản 3 có ý nghĩa đặc biệt: bí mật kinh doanh chỉ được bảo hộ nếu chủ thể chứng minh được việc bảo mật — tức là đã áp dụng các biện pháp cần thiết để giữ kín thông tin. Nếu chủ thể chủ động tiết lộ hoặc không có biện pháp bảo mật nào, quyền bảo hộ có thể không được công nhận.
Khoản 4 Điều 6 quy định quyền đối với giống cây trồng được xác lập trên cơ sở quyết định cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ. Như vậy, giống cây trồng — tương tự các đối tượng sở hữu công nghiệp chủ yếu — không được bảo hộ tự động: người tạo ra giống, người phát hiện và phát triển giống phải nộp đơn đăng ký và được cấp Bằng bảo hộ thì quyền mới chính thức xác lập.
Việc xác lập quyền đối với giống cây trồng đòi hỏi đối tượng đáp ứng các điều kiện bảo hộ về tính mới, tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định và tên gọi phù hợp theo quy định của Luật. Quyền này cho phép chủ bằng bảo hộ khai thác độc quyền giống cây trồng trong thời hạn bảo hộ, góp phần bảo vệ thành quả nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp.
Việc xác định chính xác căn cứ phát sinh, xác lập quyền là bước đầu tiên trong mọi chiến lược bảo hộ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Nếu anh/chị đang dự định đăng ký bảo hộ hoặc gặp tranh chấp liên quan, nên nhờ luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể để lựa chọn hướng xử lý phù hợp.
1. Quyền tác giả có cần đăng ký mới phát sinh không?
Không. Theo khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, không phân biệt đã đăng ký hay chưa đăng ký. Đăng ký chỉ giúp việc chứng minh quyền thuận lợi hơn khi có tranh chấp.
2. Sáng chế có được bảo hộ tự động như quyền tác giả không?
Không. Theo khoản 3 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế chỉ được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký hoặc công nhận đăng ký quốc tế.
3. Nhãn hiệu nổi tiếng có phải đăng ký mới được bảo hộ không?
Không bắt buộc. Theo điểm a khoản 3 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký. Tuy nhiên, việc chứng minh nhãn hiệu “nổi tiếng” theo quy định là vấn đề phức tạp, phụ thuộc chứng cứ từng vụ việc.
4. Quyền tác giả được bảo hộ đến khi nào?
Theo Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền nhân thân gồm quyền đặt tên, đứng tên, bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm được bảo hộ vô thời hạn; quyền công bố tác phẩm và quyền tài sản được bảo hộ suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau năm tác giả chết (hoặc 75 năm kể từ khi công bố lần đầu đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh).
Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.