Ngày kiểm tra hiệu lực: 21/08/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân & Gia đình
Liên hệ tư vấn: 0987 892 333 | Email: info@luatminhbach.vn
Ngày kiểm tra hiệu lực: 21/08/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân & Gia đình
Liên hệ tư vấn: 0987 892 333 | Email: info@luatminhbach.vn
Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn 1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các Điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết. 2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. 3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch. 4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sả
Khi ly hôn, tài sản chung của vợ chồng được chia theo nguyên tắc chia đôi, nhưng không phải chia đều một cách máy móc một nửa cho mỗi bên. Theo khoản 2 Điều 59 Luật HNGĐ 2014, thỏa thuận của các bên được ưu tiên; chỉ khi không thỏa thuận được thì Tòa án mới giải quyết theo nguyên tắc chia đôi có cân nhắc bốn yếu tố quan trọng.
Nguyên tắc chia đôi được hiểu là chia về mặt giá trị, không nhất thiết chia đôi về hiện vật. Tòa án sẽ tính đến:
Điều quan trọng cần nhấn mạnh: việc phân chia phải bảo đảm bảo vệ lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên và người không có khả năng lao động (khoản 5 Điều 59).
Không. Theo khoản 4 Điều 59 Luật HNGĐ 2014, tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Tài sản riêng được xác định theo Điều 43 Luật HNGĐ 2014, gồm tài sản có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của cá nhân và các tài sản khác mà pháp luật quy định là tài sản riêng.
Tuy nhiên, nếu tài sản riêng đã được nhập vào khối tài sản chung thì tài sản đó sẽ được chia theo quy định về tài sản chung. Việc xác định tài sản riêng có nhập vào tài sản chung hay không cần đánh giá cụ thể từng vụ việc.
Có. Công sức đóng góp là một trong bốn yếu tố được tính đến khi chia tài sản chung theo khoản 2 điểm b Điều 59 Luật HNGĐ 2014. Nguyên tắc này ghi nhận vai trò của cả hai vợ chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung.
Đặc biệt, khoản 2 điểm b nêu rõ: "Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập." Điều này có nghĩa người chăm sóc con cái, nội trợ, quản lý gia đình nhưng không có thu nhập trực tiếp vẫn được ghi nhận công sức ngang bằng người trực tiếp kiếm tiền nuôi gia đình. Đây là điểm bảo vệ quyền lợi của người làm công việc nội trợ — thường là phụ nữ — khi ly hôn.
Theo quy định, tài sản riêng bao gồm cả hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng. Cụ thể, khoản 1 Điều 43 Luật HNGĐ 2014 quy định thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung, nhưng khoản 1 Điều 43 cũng nêu rõ tài sản riêng gồm tài sản có được trước khi kết hôn và tài sản được hình thành từ tài sản riêng.
Việc xác định hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng là tài sản riêng hay tài sản chung cần xem xét nguồn gốc và thỏa thuận của các bên. Trong thực tiễn, đây là điểm dễ phát sinh tranh chấp. Nếu không có đủ căn cứ xác minh cụ thể cho từng trường hợp, không nên khẳng định chung chung — mỗi vụ việc cần đánh giá riêng.
Tài sản chung của vợ chồng được quy định tại Điều 33 Luật HNGĐ 2014, gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra; thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung; và các tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Việc xác định chính xác tài sản chung, tài sản riêng là nền tảng trước khi áp dụng việc chia tài sản theo Điều 59. Nếu vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản theo Điều 47 Luật HNGĐ 2014 thì cần xem xét nội dung thỏa thuận đó trước.
Một số điểm cần lưu ý khi áp dụng Điều 59 Luật HNGĐ 2014:
Mỗi vụ ly hôn có tình huống riêng. Bài viết chỉ cung cấp kiến thức pháp lý tổng quan; để áp dụng đúng và bảo vệ quyền lợi tốt nhất, bạn nên liên hệ luật sư tư vấn cho trường hợp của mình.
Có. Theo khoản 1 Điều 59 Luật HNGĐ 2014, việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận. Chỉ khi không thỏa thuận được thì Tòa án mới giải quyết theo quy định.
Không, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung. Căn cứ khoản 4 Điều 59 Luật HNGĐ 2014.
Có. Lao động trong gia đình được coi như lao động có thu nhập theo khoản 2 điểm b Điều 59 Luật HNGĐ 2014.
Không nhất thiết. Tài sản chung được chia đôi nhưng có tính đến hoàn cảnh gia đình, công sức đóng góp, bảo vệ lợi ích sản xuất kinh doanh và lỗi của mỗi bên (khoản 2 Điều 59).
Liên hệ Luật Minh Bạch qua số 0987 892 333 hoặc email info@luatminhbach.vn để được luật sư hỗ trợ cụ thể cho trường hợp của bạn.
Tham khảo dịch vụ pháp lý của chúng tôi tại trang Dịch vụ.
Xem thêm các bài Kiến thức pháp lý khác về lĩnh vực Hôn nhân & Gia đình.
Ngày kiểm tra hiệu lực: 21/08/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân & Gia đình
Liên hệ tư vấn: 0987 892 333 | Email: info@luatminhbach.vn