Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: Điều kiện kết hôn | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: Điều kiện kết hôn

Hôn nhân & Gia đình · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/08
Mục lục:
  1. Các điều kiện kết hôn tại Điều 8
  2. Điều kiện về độ tuổi kết hôn
  3. Nguyên tắc tự nguyện và năng lực hành vi
  4. Các trường hợp cấm kết hôn
  5. Hậu quả khi vi phạm điều kiện kết hôn

Điều 8. Điều kiện kết hôn

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định; c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự; d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

Nguồn: Xem Điều 8 (toàn văn)

1. Các điều kiện kết hôn tại Điều 8

Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (Luật số 52/2014/QH13, còn hiệu lực) quy định điều kiện kết hôn là nền tảng để xác lập quan hệ vợ chồng hợp pháp tại Việt Nam. Theo khoản 1 Điều 8, nam, nữ kết hôn với nhau phải đáp ứng đồng thời bốn điều kiện sau:

  • a) Về độ tuổi: nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
  • b) Về sự tự nguyện: việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
  • c) Về năng lực hành vi dân sự: không bị mất năng lực hành vi dân sự;
  • d) Về các trường hợp cấm kết hôn: việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật.

Khoản 2 Điều 8 đồng thời quy định: Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính. Bốn điều kiện nêu trên là điều kiện bắt buộc, phải thỏa mãn đồng thời tại thời điểm đăng ký kết hôn. Thiếu bất kỳ điều kiện nào, việc kết hôn bị coi là kết hôn trái pháp luật theo khoản 6 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 — tức việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật.

Nhấn mạnh: điều kiện kết hôn phải được đối chiếu tại thời điểm đăng ký. Việc một bên đã đủ điều kiện sau đó thì không khắc phục được tình trạng vi phạm phát sinh tại thời điểm đăng ký, trừ trường hợp đặc thù quy định tại Điều 11 (phân tích ở mục 5).

2. Điều kiện về độ tuổi kết hôn

Theo điểm a khoản 1 Điều 8, độ tuổi kết hôn tối thiểu là nam từ đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi. Quy định chênh lệch độ tuổi giữa nam và nữ bắt nguồn từ đặc điểm sinh học và được giữ nguyên qua các kỳ sửa đổi luật. Thuật ngữ "từ đủ" có ý nghĩa pháp lý quan trọng: người nam phải tròn 20 tuổi, người nữ phải tròn 18 tuổi tại ngày đăng ký kết hôn; còn thiếu một ngày cũng chưa đủ điều kiện.

Khoản 8 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 định nghĩa tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8. Tảo hôn là hành vi bị nghiêm cấm theo điểm b khoản 2 Điều 5 của Luật. Người vi phạm quy định về độ tuổi kết hôn còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình; trong trường hợp cố ý cưỡng ép, tổ chức tảo hôn... có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định Bộ luật Hình sự 2015 (Điều 183 tội tổ chức tảo hôn, Điều 181 tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ) — mức phạt cần được đối chiếu cụ thể với quy định hiện hành.

Trong thực tế, cán bộ tư pháp hộ tịch có trách nhiệm kiểm tra độ tuổi qua giấy tờ tùy thân (căn cước công dân, giấy khai sinh) trước khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký kết hôn; nếu phát hiện chưa đủ tuổi thì từ chối giải quyết và hướng dẫn đương sự.

3. Nguyên tắc tự nguyện và năng lực hành vi

a) Sự tự nguyện trong kết hôn

Điểm b khoản 1 Điều 8 quy định việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định. Yêu cầu này xuất phát từ nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ tại khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng. Điểm b khoản 2 Điều 5 nghiêm cấm cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; điểm đ khoản 2 Điều 5 cấm yêu sách của cải trong kết hôn.

Sự tự nguyện được đánh giá tại thời điểm nam, nữ thực hiện đăng ký kết hôn, thể hiện qua việc cả hai cùng tự nguyện đến cơ quan đăng ký hộ tịch và tự nguyện khai, ký vào tờ khai đăng ký kết hôn. Trong trường hợp kết hôn do bị cưỡng ép hoặc lừa dối thì người bị vi phạm có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Điều 10Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (phân tích tại mục 5).

b) Năng lực hành vi dân sự

Điểm c khoản 1 Điều 8 yêu cầu người kết hôn không bị mất năng lực hành vi dân sự. Khái niệm năng lực hành vi dân sự được xác định theo Bộ luật Dân sự 2015: mất năng lực hành vi dân sự là tình trạng người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, được Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần (Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015). Người mất năng lực hành vi dân sự không thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trong đó có giao kết hôn.

Cần phân biệt với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 23 Bộ luật Dân sự 2015) — đối tượng này thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản phải có người đại diện theo pháp luật đồng ý, nhưng không thuộc trường hợp bị cấm kết hôn theo điểm c khoản 1 Điều 8. Như vậy, chỉ khi bị mất năng lực hành vi dân sự thì mới vướng điều kiện cấm này.

4. Các trường hợp cấm kết hôn

Điểm d khoản 1 Điều 8 dẫn chiếu đến các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Theo đó, các trường hợp cấm kết hôn bao gồm:

  • Kết hôn giả tạo (điểm a khoản 2 Điều 5) — kết hôn nhằm mục đích khác nhưng không xác lập quan hệ vợ chồng thật sự, ví dụ kết hôn để nhập hộ khẩu, định cư, trục lợi tài sản;
  • Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn (điểm b khoản 2 Điều 5);
  • Vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng (điểm c khoản 2 Điều 5): người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác; hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
  • Kết hôn giữa những người có quan hệ huyết thống, gia đình (điểm d khoản 2 Điều 5): cùng dòng máu về trực hệ; có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Khoản 2 Điều 8 bổ sung quy định: Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính. Quy định này không thuộc nhóm "trường hợp cấm kết hôn" để dẫn đến hủy việc kết hôn trái pháp luật mà mang tính chất không công nhận: hôn nhân cùng giới tính không được đăng ký và không có giá trị pháp lý theo pháp luật Việt Nam.

Việc xác định người "đang có vợ, có chồng" dựa trên quan hệ hôn nhân hợp pháp còn tồn tại (chưa ly hôn, chưa bị tuyên bố hủy kết hôn). Kết hôn trái pháp luật thuộc điểm c khoản 2 Điều 5 còn đối diện với rủi ro truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015) nếu hành vi gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm.

5. Hậu quả khi vi phạm điều kiện kết hôn

a) Hủy việc kết hôn trái pháp luật

Kết hôn vi phạm điều kiện tại Điều 8 bị xử lý theo Điều 11, 12: Tòa án ra quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật. Người có quyền yêu cầu được quy định tại Điều 10:

  • Trường hợp vi phạm điều kiện tự nguyện (điểm b khoản 1 Điều 8): người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức có thẩm quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn (khoản 1 Điều 10);
  • Trường hợp vi phạm các điều kiện khác (điểm a, c, d khoản 1 Điều 8): vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội Liên hiệp Phụ nữ có quyền yêu cầu (khoản 2 Điều 10).

b) Trường hợp công nhận quan hệ hôn nhân

Khoản 2 Điều 11 quy định ngoại lệ quan trọng: nếu tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên đã có đủ các điều kiện kết hôn theo Điều 8 và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn. Đây là điểm mềm dẻo của luật, thường áp dụng cho các trường hợp tảo hôn một thời gian dài rồi mới bị phát hiện.

c) Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật (Điều 12)

  • Hai bên phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng (khoản 1);
  • Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn (khoản 2) — tức con vẫn được bảo vệ, nghĩa vụ cấp dưỡng vẫn phát sinh;
  • Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo Điều 16 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (khoản 3): tài sản được chia theo quy định về chia tài sản khi ly hôn, hợp đồng giữa các bên về tài sản vô hiệu... — cần đối chiếu Điều 16 để áp dụng cụ thể.

d) Lưu ý về thẩm quyền giải quyết

Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thuộc nhóm yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, do Tòa án nhân dân khu vực giải quyết theo thủ tục sơ thẩm theo điểm b khoản 2 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Ngoài ra, hành vi tảo hôn, cưỡng ép kết hôn... còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình; các hành vi tổ chức tảo hôn, cưỡng ép người khác kết hôn trái tự nguyện có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 181, 183 Bộ luật Hình sự 2015.

Câu hỏi thường gặp

1. Kết hôn khi nam chưa đủ 20 tuổi, nữ mới đủ 18 tuổi có hợp pháp không?
Không. Theo điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, nam phải từ đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi. Nam chưa đủ 20 tuổi là tảo hôn theo khoản 8 Điều 3 Luật này — hành vi bị cấm, việc kết hôn có thể bị Tòa án hủy nếu chưa đủ điều kiện tại thời điểm giải quyết.

2. Người đang có vợ/chồng kết hôn với người khác thì xử lý thế nào?
Việc kết hôn vi phạm chế độ một vợ, một chồng (điểm c khoản 2 Điều 5) là kết hôn trái pháp luật, bị Tòa án hủy theo yêu cầu của người có quyền (Điều 10). Ngoài ra, hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015 nếu đủ yếu tố.

3. Kết hôn do bị cưỡng ép, lừa dối có thể hủy không?
Có. Người bị cưỡng ép, lừa dối kết hôn có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Điều 10 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, vì việc kết hôn vi phạm điều kiện tự nguyện tại điểm b khoản 1 Điều 8.

4. Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật thì con và tài sản giải quyết ra sao?
Theo Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, hai bên chấm dứt quan hệ như vợ chồng; quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con giải quyết như khi ly hôn; quan hệ tài sản giải quyết theo Điều 16. Con vẫn có quyền được nuôi dưỡng, cấp dưỡng.

Lưu ý khi áp dụng

Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (52/2014/QH13) - Điều 8 về điều kiện kết hôn
  • Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 - Điều 9 về đăng ký kết hôn

Lưu ý: Luật Tổ chức TAND sửa đổi 2025 (81/2025/QH15, hiệu lực 01/7/2025) đã thay đổi tên gọi "Tòa án nhân dân cấp huyện" thành "Tòa án nhân dân khu vực". Các quy định về thẩm quyền được giữ nguyên.

Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp