Khi ly hôn, vợ chồng phải chia cả nợ chung chứ không chỉ chia tài sản. Nợ chung là khoản nợ phát sinh vì lợi ích chung của gia đình hoặc do cả hai vợ chồng thỏa thuận trong thời kỳ hôn nhân (Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, số 52/2014/QH13). Việc chia nợ do vợ chồng thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định, và dù chia thế nào, vợ chồng vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với chủ nợ theo Điều 60 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và Bộ luật Dân sự 2015 (số 91/2015/QH13).
Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập phát sinh trong thời kỳ hôn nhân và các tài sản khác theo quy định. Song song với đó, vợ chồng cũng có các nghĩa vụ chung về tài sản.
Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 liệt kê các nghĩa vụ chung về tài sản, gồm:
Ngược lại, các nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập vì lợi ích riêng, hoặc từ tài sản riêng, không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, thường được xem là nghĩa vụ riêng, không phải nợ chung. Đây là ranh giới quan trọng cần xác định rõ khi ly hôn.
Tổng hợp từ Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, nợ chung của vợ chồng thường rơi vào các nhóm sau:
Nợ do một bên vay cho mục đích riêng, tiêu xài cá nhân, đánh bạc, hoặc vay trước khi kết hôn mà không liên quan đến lợi ích chung của gia đình thì là nợ riêng và bên vay phải tự chịu trách nhiệm. Việc xác định nợ chung hay riêng phụ thuộc vào mục đích vay và nguồn tiền sử dụng, không phụ thuộc vào việc ai đứng tên trong giấy vay.
Điều 60 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba được thực hiện trong các trường hợp:
Khi ly hôn, việc chia tài sản chung và thanh toán nợ chung được tiến hành như sau:
Nguyên tắc then chốt: chia nợ giữa vợ và chồng không làm mất quyền đòi nợ của chủ nợ đối với nợ chung.
Sau ly hôn, dù đã phân chia phần nợ mỗi bên phải trả, trách nhiệm liên đới với chủ nợ vẫn tồn tại đối với nợ chung: nếu tài sản chung không đủ thanh toán, vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng (Điều 60 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014). Chủ nợ có quyền yêu cầu bất kỳ ai trong hai người thực hiện toàn bộ nghĩa vụ, sau đó người đã trả có quyền yêu cầu người kia hoàn trả phần tương ứng.
Theo Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13), người có nghĩa vụ dân sự phải thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, đầy đủ; nghĩa vụ liên đới phát sinh khi luật hoặc hợp đồng quy định các chủ thể phải cùng thực hiện. Việc một bên không trả phần nợ đã thỏa thuận không làm chủ nợ mất quyền đòi người còn lại nếu khoản nợ là nợ chung.
Vì vậy, thỏa thuận chia nợ trong quá trình ly hôn nên làm thành văn bản, ghi rõ từng khoản nợ, phần trách nhiệm của mỗi bên và phương thức thanh toán, để làm căn cứ đối chiếu khi có tranh chấp; nếu cần, bạn có thể tham khảo dịch vụ ly hôn và phân chia tài sản.
Khi một bên không thực hiện phần nghĩa vụ trả nợ đã thỏa thuận hoặc được Tòa án xác định, người còn lại (đã trả thay hoặc bị chủ nợ yêu cầu) có thể yêu cầu bên kia thực hiện phần nghĩa vụ của mình; nếu không tự nguyện thì khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Về phía chủ nợ, họ có quyền khởi kiện yêu cầu cả hai vợ chồng liên đới trả nợ nếu khoản nợ là nợ chung, và việc thi hành án được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Người không trả nợ có thể bị cưỡng chế thi hành án, bị kê biên, xử lý tài sản để bảo đảm thi hành. Nếu có dấu hiệu tẩu tán tài sản, bên có quyền cần thu thập chứng cứ và yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Thông thường không. Nợ phát sinh từ giao dịch vì lợi ích riêng hoặc từ tài sản riêng của một bên là nghĩa vụ riêng, do bên đó tự chịu trách nhiệm (Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014), trừ khi khoản vay được dùng cho nhu cầu thiết yếu chung của gia đình.
Có. Thỏa thuận chia nợ giữa vợ và chồng không làm mất quyền của chủ nợ: với nợ chung, nếu tài sản chung không đủ thanh toán, vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng (Điều 60 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014).
Vợ chồng có thể thỏa thuận lại việc phân chia; nếu không thỏa thuận được, có thể yêu cầu Tòa án giải quyết lại việc chia tài sản chung khi phát sinh khoản nợ chưa được xử lý, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Không. Khoản nợ không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật cá nhân, không thuộc nghĩa vụ chung theo Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Thỏa thuận chia nợ có thể được ghi nhận trong văn bản thỏa thuận hoặc trong quyết định của Tòa án. Nên lập thành văn bản rõ ràng để tăng giá trị chứng cứ; tùy tính chất tài sản, việc công chứng có thể được yêu cầu theo quy định.
Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.