Đề nghị giao kết hợp đồng: hiệu lực, thay đổi và hủy bỏ | Công ty Luật Minh Bạch

Đề nghị giao kết hợp đồng: hiệu lực, thay đổi và hủy bỏ

Hợp đồng · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/10

Điều 386. Đề nghị giao kết hợp đồng 1. Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị). 2. Trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Đề nghị giao kết hợp đồng theo Điều 386

Khái niệm. Điều 386 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: đề nghị giao kết hợp đồng là việc một bên (bên đề nghị) thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này đối với bên đã được xác định cụ thể. Đề nghị phải chứa nội dung chủ yếu của hợp đồng (Điều 398) và thể hiện ý chí tự nguyện, thiện chí theo Điều 3.

Phân tích. Ba yếu tố cấu thành: (i) ý định giao kết rõ ràng; (ii) sự ràng buộc trách nhiệm của bên đề nghị; (iii) hướng tới bên được xác định cụ thể. Thiếu yếu tố ràng buộc, văn bản chỉ là lời mời đàm phán, không phát sinh hậu quả pháp lý theo Điều 386. Thời hạn hiệu lực xác định theo Điều 388; thay đổi, hủy bỏ theo Điều 389; chấm dứt theo Điều 390; trường hợp bên đề nghị chết hoặc mất năng lực theo Điều 391.

Ví dụ thực tiễn. Công ty A gửi email cho Công ty B: "Chào bán 500 tấn gạo, giá 12 triệu đồng/tấn, giao trong 30 ngày, thanh toán 50% trước". Nội dung nêu rõ đối tượng, giá, thời hạn, phương thức thanh toán — đủ nội dung chủ yếu, hướng tới B xác định. Đây là đề nghị giao kết hợp đồng theo Điều 386. Ngược lại, quảng cáo "Gạo ngon, giá tốt, liên hệ" không cấu thành đề nghị vì thiếu nội dung chủ yếu và không ràng buộc.

Hệ quả. Khi đề nghị có hiệu lực, bên đề nghị bị ràng buộc; nếu B chấp nhận trong thời hạn (Điều 393), hợp đồng giao kết. Bên đề nghị không thể tùy tiện rút lại nếu trái Điều 389, có thể phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo Điều 3 khoản 5 và các quy định về trách nhiệm dân sự.

2. Thời điểm đề nghị có hiệu lực theo Điều 388

Điều 388 BLDS 2015 quy định thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực:

  • Khoản 1: Đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị.
  • Khoản 2: Trường hợp các bên có thỏa thuận khác về thời điểm có hiệu lực thì thực hiện theo thỏa thuận.

Điều 386 định nghĩa đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể. Điều 389 quy định bên đề nghị có thể thay đổi, rút lại đề nghị trong trường hợp luật có quy định hoặc các bên có thỏa thuận; Điều 390 về hủy bỏ đề nghị; Điều 391 về chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng.

Điểm cốt lõi: hiệu lực phát sinh khi bên được đề nghị nhận được đề nghị, không phải khi bên đề nghị gửi đi. Đây là mốc xác định thời điểm phát sinh ràng buộc pháp lý, làm cơ sở áp dụng các điều 389, 390, 391 về thay đổi, rút lại, hủy bỏ và chấm dứt đề nghị.

Ví dụ: A gửi email đề nghị bán hàng cho B ngày 01/3. B mở và biết nội dung ngày 03/3. Theo Điều 388 khoản 1, đề nghị có hiệu lực từ 03/3. Nếu trước 03/3 A gửi thông báo hủy bỏ và thông báo đến B cùng lúc hoặc trước đề nghị, việc hủy bỏ có hiệu lực (Điều 390). Ngược lại, sau 03/3, A chỉ được thay đổi hoặc rút lại nếu có thỏa thuận hoặc luật quy định (Điều 389).

Lưu ý: các bên có thể thỏa thuận thời điểm hiệu lực khác (khoản 2 Điều 388), chẳng hạn ấn định đề nghị có hiệu lực kể từ khi ký kết văn bản đề nghị. Khi đó, thỏa thuận được ưu tiên áp dụng.

3. Thay đổi, rút lại đề nghị theo Điều 389

Thay đổi, rút lại đề nghị theo Điều 389

Điều 389 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: người đề nghị có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trong hai trường hợp. Một là, bên được đề nghị chưa nhận được đề nghị. Hai là, điều kiện thay đổi hoặc rút lại phát sinh đồng thời với việc giao đề nghị hoặc trước khi bên được đề nghị nhận được đề nghị.

Quy tắc này bảo vệ bên được đề nghị khỏi rủi ro bị "thay đổi ý" tùy tiện. Khi đề nghị đã đến tay người nhận, người đề nghị mất quyền đơn phương rút lại, trừ khi chính đề nghị đã tuyên bố trước điều kiện rút.

Ví dụ: A gửi email ngày 01/3 đề nghị bán 100 tấn gạo, ghi rõ "đề nghị có hiệu lực đến 10/3". Ngày 03/3, A gửi email hủy. Nếu B chưa mở email ngày 01/3, việc hủy có hiệu lực. Nếu B đã nhận và chấp nhận trước ngày 03/3, việc hủy vô hiệu; hợp đồng đã hình thành.

Trường hợp khác: A ghi trong đề nghị "tôi có quyền rút lại nếu giá thị trường biến động trên 10%". Điều kiện này phát sinh đồng thời với việc giao đề nghị, nên A được rút khi điều kiện xuất hiện, dù B đã nhận đề nghị.

Đối chiếu Điều 388: đề nghị chỉ bị chấm dứt theo các căn cứ luật định. Điều 389 là một căn cứ chấm dứt trước khi hợp đồng giao kết. Điều 390 quy định chấp nhận đề nghị; Điều 391 quy định thời hạn trả lời. Ba điều này liên kết chặt: rút lại hợp lệ theo Điều 389 thì đề nghị chấm dứt, bên được đề nghị không còn cơ sở chấp nhận.

Thực tiễn: tranh chấp thường phát sinh khi xác định thời điểm "nhận được đề nghị". Với thư điện tử, cần căn cứ Điều 391 và quy định về giao dịch điện tử để xác định thời điểm. Doanh nghiệp nên ghi rõ điều kiện rút lại ngay trong đề nghị để tránh tranh cãi.

4. Hủy bỏ và chấm dứt đề nghị theo Điều 390, 391

Hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 390)

Cá nhân, pháp nhân đề nghị giao kết có quyền hủy bỏ đề nghị, nhưng phải tuân thủ hai điều kiện. Thứ nhất, người đề nghị phải thông báo cho bên được đề nghị về việc hủy bỏ. Thứ hai, thông báo chỉ có hiệu lực nếu đến trước thời điểm bên được đề nghị trả lời chấp nhận. Nếu bên được đề nghị đã chấp nhận trước khi nhận thông báo hủy bỏ, đề nghị vẫn phát sinh hiệu lực, hợp đồng được giao kết; người đề nghị phải chịu trách nhiệm.

Ví dụ: A gửi đề nghị bán hàng cho B, thời hạn trả lời 10 ngày. Ngày thứ 5, A gửi thông báo hủy bỏ. B đã chấp nhận ngày thứ 4. Hợp đồng đã giao kết, A không thể hủy bỏ.

Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 391)

Đề nghị giao kết chấm dứt trong các trường hợp sau:

  • Bên được đề nghị trả lời không chấp nhận hoặc trả lời chấp nhận nhưng có điều kiện, sửa đổi đề nghị.
  • Hết thời hạn trả lời mà bên được đề nghị không trả lời.
  • Thông báo hủy bỏ đề nghị có hiệu lực theo Điều 390.
  • Thông báo thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực theo Điều 388, 389.
  • Theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định khác của luật.

Phân biệt: hủy bỏ (Điều 390) là hành vi đơn phương của người đề nghị sau khi đề nghị đã đến bên kia; rút lại (Điều 388) là khi đề nghị chưa đến hoặc đến cùng lúc với thông báo rút. Hệ quả pháp lý khác nhau về thời điểm và trách nhiệm bồi thường.

Thực tiễn: tranh chấp thường phát sinh khi bên đề nghị hủy bỏ muộn, sau khi bên kia đã chấp nhận. Tòa án căn cứ thời điểm thông báo đến để xác định hợp đồng đã giao kết hay chưa, từ đó buộc bên hủy bỏ sai phải bồi thường thiệt hại theo Điều 3 và các quy định về trách nhiệm dân sự.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13) - Điều 386, 388, 389, 390, 391
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.
📞 💬 WhatsApp