Theo Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Người lập di chúc có quyền định đoạt khối tài sản của mình cho người thân, tổ chức hoặc cơ quan tùy theo ý chí, trong khuôn khổ pháp luật.
Theo Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015, người lập di chúc có các quyền sau: chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; phân định phần di sản cho từng người thừa kế; dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng; giao nghĩa vụ cho người thừa kế; chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản. Di sản dùng để định đoạt gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác (Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015).
Theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc hợp pháp phải đáp ứng các điều kiện sau:
Về người lập di chúc: người thành niên có thể lập di chúc theo quy định (Điều 625 Bộ luật Dân sự 2015). Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể lập di chúc nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc. Người bị hạn chế về thể chất hoặc người không biết chữ có thể nhờ người khác viết hoặc tự đánh máy bản di chúc nhưng phải có ít nhất 02 người làm chứng, ký hoặc điểm chỉ trước mặt người làm chứng (khoản 4 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015). Người làm chứng phải là người đủ điều kiện theo quy định tại Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015: không phải là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc, không có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung di chúc, không phải người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Lưu ý: di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc không biết chữ nếu không có người làm chứng hợp pháp hoặc không đáp ứng hình thức theo quy định sẽ không được coi là hợp pháp.
Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng (Điều 627 Bộ luật Dân sự 2015). Các hình thức di chúc bằng văn bản gồm:
Theo khoản 3 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp nếu có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này (điều kiện về người lập di chúc, nội dung, hình thức). Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc vào bất cứ lúc nào (Điều 640 Bộ luật Dân sự 2015).
Di chúc miệng chỉ được lập trong trường hợp tính mạng của một người đang bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản (khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015). Điều kiện hợp pháp của di chúc miệng:
Hệ quả quan trọng: sau 03 tháng kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ (khoản 2 Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015). Do đó, di chúc miệng chỉ có giá trị trong thời gian ngắn và tiềm ẩn nhiều rủi ro tranh chấp; người dân nên ưu tiên lập di chúc bằng văn bản khi có điều kiện.
Dù người lập di chúc có toàn quyền định đoạt di sản, pháp luật vẫn bảo vệ những người thân yếu thế thông qua quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015).
Theo đó, những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn 2/3 suất đó: con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; và con đã thành niên mà không có khả năng lao động.
Quy định này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định hoặc người không có quyền hưởng di sản (ví dụ người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người để lại di sản... theo Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015). Đây là nội dung thường phát sinh tranh chấp trong thực tiễn chia thừa kế theo di chúc, cần được tính toán kỹ khi soạn thảo di chúc.
Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế (Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015). Di chúc không có hiệu lực pháp luật trong các trường hợp: người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Di chúc không có hiệu lực pháp luật toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp nội dung di chúc không hợp pháp nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại. Nếu di chúc vô hiệu toàn bộ hoặc không có di chúc thì di sản được chia theo pháp luật theo hàng thừa kế quy định tại Điều 650, Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015.
Một lưu ý quan trọng: khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với cùng một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực pháp luật (khoản 4 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015). Vì vậy, khi người lập di chúc thay đổi ý chí, cần hủy bỏ các bản di chúc cũ hoặc lập di chúc mới ghi rõ thời điểm để tránh tranh chấp.
Nội dung trên chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Mỗi vụ việc cần được đánh giá trên hồ sơ cụ thể.
Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.