Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác; việc từ chối phải được lập thành văn bản và thể hiện trước thời điểm phân chia di sản (Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015). Khác với người không được quyền hưởng di sản theo Điều 621 (bị pháp luật truất quyền do có hành vi trái pháp luật), người từ chối nhận di sản là người có quyền hưởng nhưng tự nguyện không nhận.
Theo khoản 1 Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. Như vậy, việc nhận hay không nhận di sản là quyền tự định đoạt của người thừa kế, không ai có thể ép buộc người thừa kế phải nhận di sản.
Quyền này được ghi nhận cho người thừa kế nói chung, dù người thừa kế theo di chúc hay người thừa kế theo pháp luật. Người thừa kế có thể từ chối toàn bộ phần di sản mà mình được hưởng. Tuy nhiên, quyền từ chối bị giới hạn trong một trường hợp: nếu việc từ chối nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản của người thừa kế đối với người khác (ví dụ trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, nghĩa vụ cấp dưỡng) thì việc từ chối đó không được chấp nhận.
Việc từ chối nhận di sản còn có ý nghĩa quan trọng trong quan hệ với người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc: những người được quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 (con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên không có khả năng lao động) vẫn được bảo vệ, nhưng quy định này không áp dụng với người từ chối nhận di sản theo quy định của pháp luật.
Để việc từ chối nhận di sản có hiệu lực, người thừa kế phải đáp ứng các điều kiện tại Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015:
Ngoài ra, người từ chối phải có năng lực hành vi dân sự phù hợp và việc từ chối phải hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, vì đây là các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015. Người chưa thành niên hoặc người mất năng lực hành vi dân sự thực hiện việc từ chối thông qua người đại diện theo pháp luật.
Lưu ý: văn bản từ chối nhận di sản không bị ép buộc phải công chứng, chứng thực, nhưng trong thực tế, để bảo đảm giá trị chứng cứ và thuận lợi khi làm thủ tục khai nhận di sản cho người còn lại, văn bản này thường được công chứng hoặc chứng thực để bảo đảm tính pháp lý.
Theo khoản 2 Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015, thời hạn quan trọng là việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản. Nếu đến thời điểm phân chia di sản mà người thừa kế không thể hiện ý chí từ chối, người đó được xem là nhận di sản và tham gia phân chia như bình thường.
Về hình thức, việc từ chối phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết (khoản 2 Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015). Việc gửi văn bản từ chối giúp các chủ thể liên quan nắm được ý chí của người thừa kế để xác định phần di sản sẽ được phân chia cho những người còn lại.
Văn bản từ chối nhận di sản nên ghi rõ: họ tên, địa chỉ của người từ chối; quan hệ với người để lại di sản; phần di sản được hưởng; nội dung từ chối và lý do từ chối; thời điểm để lại di sản; họ tên những người thừa kế khác. Văn bản được người từ chối ký tên, điểm chỉ; nếu người từ chối không biết chữ thì nhờ người làm chứng theo quy định.
Khi có người thừa kế từ chối nhận di sản, phần di sản của người đó được xử lý theo quy định về phân chia di sản thừa kế. Văn bản từ chối nhận di sản là căn cứ để xác định người thừa kế còn lại và phần di sản mà họ được hưởng; vì vậy, văn bản này thường được nộp kèm trong bộ hồ sơ khai nhận di sản.
Về trình tự thực hành thông thường: sau khi người để lại di sản chết, những người thuộc hàng thừa kế làm văn bản khai nhận di sản; ai có nguyện vọng không nhận thì lập văn bản từ chối gửi cho người quản lý di sản, những người thừa kế khác và người được giao nhiệm vụ phân chia di sản trước thời điểm phân chia (khoản 2 Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015). Hồ sơ sau đó được nộp tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc cơ quan có thẩm quyền để công chứng, chứng thực văn bản khai nhận hoặc phân chia di sản.
Lưu ý: người thừa kế từ chối nhận di sản vẫn được quyền hưởng di sản nếu việc từ chối không hợp lệ, ví dụ từ chối nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản hoặc thể hiện sau thời điểm phân chia di sản. Vì vậy, cần cân nhắc kỹ thời điểm và lý do từ chối. Đối với di sản là quyền sử dụng đất, xem thêm hướng dẫn về thừa kế quyền sử dụng đất và thừa kế theo di chúc.
Khi người thừa kế từ chối nhận di sản hợp lệ, người đó không được hưởng phần di sản mà mình lẽ ra được nhận. Phần di sản của người từ chối sẽ được phân chia cho những người thừa kế khác theo quy định về phân chia di sản thừa kế. Điều này làm thay đổi tỷ lệ hưởng di sản của những người còn lại, vì vậy cần được xác định rõ trong văn bản phân chia di sản.
Người từ chối nhận di sản không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản phát sinh từ di sản tương ứng với phần đã từ chối, và ngược lại, nếu không từ chối thì người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản theo quy định của pháp luật về thừa kế. Chính vì vậy, có người lựa chọn từ chối nhận di sản khi di sản là các khoản nợ hoặc tài sản có giá trị thấp hơn nghĩa vụ phải thanh toán — nhưng việc từ chối vì mục đích trốn tránh nghĩa vụ tài sản sẽ không được pháp luật chấp nhận (khoản 1 Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015).
Trong trường hợp tất cả những người có quyền hưởng di sản đều từ chối nhận di sản thì di sản không có người nhận thừa kế; khi đó, tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản thuộc về Nhà nước theo quy định của pháp luật. Đây là hậu quả cuối cùng cần cân nhắc trước khi từ chối đối với toàn bộ di sản.
Đây là hai chế định khác nhau về bản chất. Người từ chối nhận di sản theo Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015 là người có quyền hưởng di sản nhưng tự nguyện không nhận, do ý chí của chính mình, và việc từ chối có hiệu lực khi đáp ứng các điều kiện về hình thức, thời hạn nêu trên.
Người không được quyền hưởng di sản theo Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 là người bị pháp luật tước quyền hưởng di sản do có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, như: bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản; vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, hoặc giả mạo, sửa chữa, hủy, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
Điểm khác biệt cốt lõi: người từ chối nhận di sản chủ động lựa chọn không nhận và việc từ chối phụ thuộc vào ý chí của họ; người không được quyền hưởng di sản bị loại khỏi hàng thừa kế do pháp luật, dù họ có muốn nhận hay không. Cả hai trường hợp đều dẫn đến việc người đó không nhận được di sản, nhưng căn cứ pháp lý hoàn toàn khác nhau. Khi phân chia di sản, cần xác định đúng trường hợp để xử lý phần di sản tương ứng được phân chia cho những người thừa kế còn lại theo đúng quy định.
Có. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác (khoản 1 Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015).
Việc từ chối phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản (khoản 2 Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015). Nếu không thể hiện ý chí từ chối trước thời điểm này, người thừa kế được xem là nhận di sản.
Theo Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015, việc từ chối phải lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản; pháp luật không bắt buộc công chứng, chứng thực, nhưng trong thực tế việc công chứng, chứng thực giúp bảo đảm giá trị pháp lý của văn bản.
Người thừa kế phải gửi văn bản từ chối đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác và người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết (khoản 2 Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015).
Không. Từ chối nhận di sản (Điều 620) là do ý chí tự nguyện của người thừa kế; người không được quyền hưởng di sản (Điều 621) bị pháp luật loại khỏi quyền hưởng do có hành vi vi phạm pháp luật. Hai trường hợp có căn cứ pháp lý khác nhau.
Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.