Thừa kế theo pháp luật là việc di sản của người chết được chia theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự do pháp luật quy định, thay vì theo ý nguyện ghi trong di chúc (Điều 649 Bộ luật Dân sự 2015).
Đây là chế định quan trọng, đặc biệt với tranh chấp thừa kế nhà đất — chủ đề được tìm kiếm phổ biến hiện nay. Phần lớn vụ chia thừa kế đất đai phát sinh từ tình huống: người chết không để lại di chúc, các con và người thân không thống nhất cách chia.
Người thừa kế là cá nhân phải còn sống tại thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra còn sống sau đó nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết (Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015).
Theo Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015, thừa kế theo pháp luật áp dụng trong các trường hợp: không có di chúc; di chúc không hợp pháp; những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản không còn tồn tại; người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc nhưng không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản.
Ngoài ra, phần di sản không được định đoạt trong di chúc cũng được chia theo pháp luật.
Hàng thừa kế thứ nhất gồm (khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015):
Con riêng của vợ (hoặc chồng) và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì thuộc hàng thừa kế thứ nhất (Điều 654).
Những người cùng hàng hưởng phần di sản bằng nhau (khoản 2 Điều 651). Khi chia thừa kế đất đai không có di chúc, nếu hàng thứ nhất còn người thì toàn bộ di sản chỉ chia trong nội bộ hàng này và chia đều.
Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột và cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại (điểm b khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015).
Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột (điểm c khoản 1 Điều 651).
Về thứ tự hưởng di sản (khoản 2, 3 Điều 651): những người ở hàng sau chỉ được hưởng nếu không còn ai ở hàng trước do đã chết, không có quyền hưởng, bị truất quyền hoặc từ chối nhận di sản; những người cùng hàng hưởng phần bằng nhau.
Quy tắc này rất quan trọng khi chia di sản nhà đất: nếu còn bất kỳ người nào ở hàng thứ nhất (ví dụ một người con) thì cháu, anh em họ, cô dì chú bác — dù đang quản lý, sử dụng đất — không được hưởng di sản.
Thừa kế thế vị là trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ mình được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng thời điểm thì chắt được hưởng thay (Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015).
Ví dụ: ông A có con là B, B chết trước ông A. Khi ông A mất không có di chúc, cháu C (con của B) đứng vào vị trí của B để hưởng phần di sản ở hàng thừa kế thứ nhất; các con khác của ông A vẫn hưởng phần bằng nhau.
Thừa kế thế vị cũng áp dụng cho con nuôi với cha nuôi, mẹ nuôi và con riêng với bố dượng, mẹ kế có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng như cha con, mẹ con (Điều 653 Bộ luật Dân sự 2015).
Theo Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. Việc từ chối phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết; thời điểm từ chối phải thể hiện trước thời điểm di sản được phân chia.
Trong khi đó, Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 quy định những người sau đây không được quyền hưởng di sản: người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản; người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng; người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng của người thừa kế khác nhằm hưởng di sản; người có hành vi lừa dối, cưỡng ép, ngăn cản việc lập di chúc, giả mạo di chúc nhằm hưởng di sản trái ý chí của người để lại di sản.
Lưu ý phân biệt: người từ chối nhận di sản là người có quyền hưởng hợp pháp nhưng tự mình không nhận; còn người không được quyền hưởng là do pháp luật loại trừ vì hành vi vi phạm. Hai khái niệm khác nhau về bản chất, ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định ai được chia di sản.
Đây là tình huống điển hình nhất trong tranh chấp thừa kế nhà đất hiện nay. Khi di sản là quyền sử dụng đất, nhà ở mà không có di chúc, việc chia theo thứ tự sau:
Về thời hiệu yêu cầu chia di sản, theo Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015: 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản kể từ thời điểm mở thừa kế; hết thời hạn, di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý.
Xem thêm hướng dẫn về thừa kế đất đai với quyền sử dụng đất của người thừa kế và thủ tục khai nhận chi tiết tại bài phân chia di sản thừa kế.
Không. Con dâu, con rể không thuộc hàng thừa kế nào theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp có quan hệ nuôi dưỡng, chăm sóc như cha con, mẹ con để được xếp vào hàng thừa kế theo quy định.
Không. Người từ chối nhận di sản không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết, vì họ không hưởng quyền tương ứng. Tuy nhiên, việc từ chối nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác sẽ không được chấp nhận (Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015).
Nếu các thừa kế thống nhất, thủ tục khai nhận di sản và đăng ký biến động đất đai thường mất vài tuần đến vài tháng. Nếu có tranh chấp, việc khởi kiện tại Tòa án kéo dài theo thủ tục tố tụng dân sự.
30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế (khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015).
Có. Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế theo quy định tại Điều 651 và Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 653).
Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành, :
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.