Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015: Tội cố ý gây thương tích | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015: Tội cố ý gây thương tích

Hình sự · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/08
Mục lục:
  1. Nội dung Điều 134
  2. Khái niệm tỷ lệ tổn thương cơ thể
  3. Các tình tiết định khung tăng nặng
  4. Phân biệt với tội giết người và tội vô ý gây thương tích
  5. Thực tiễn giám định thương tật
  6. Khởi tố theo yêu cầu bị hại và nghĩa vụ bồi thường dân sự

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người; b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình; đ) Có tổ chức; e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gâ…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm: a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 22 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm

2018. b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%; c) Phạm tội 02 lần trở lên; d) Tái phạm nguy hiểm; đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

… (trích một phần)

Nguồn: Xem Điều 134 (toàn văn)

1. Nội dung Điều 134

Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 theo Luật số 12/2017/QH14) quy định Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác — tội phạm xâm phạm quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người. So với tội giết người, điều luật này bảo vệ khách thể khác: không phải tính mạng mà là sức khỏe của nạn nhân.

Điều 134 gồm 06 khoản, quy định nhiều khung hình phạt tùy theo mức độ tổn hại và các tình tiết định khung:

  • Khoản 1 — khung cơ bản: người cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%, hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a đến điểm k (dùng vũ khí, hung khí nguy hiểm; dùng a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm; đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình; có tổ chức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù; thuê gây thương tích hoặc gây thương tích do được thuê; có tính chất côn đồ; đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân) — bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
  • Khoản 2: tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; gây thương tích cho 02 người trở lên với tỷ lệ mỗi người từ 11% đến 30%; phạm tội 02 lần trở lên; tái phạm nguy hiểm; hoặc tỷ lệ từ 11% đến 30% kèm tình tiết định khung tại khoản 1 — bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm.
  • Khoản 3: tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên (nếu không thuộc điểm b khoản 4); gây thương tích cho 02 người trở lên với tỷ lệ mỗi người từ 31% đến 60%; tỷ lệ từ 31% đến 60% hoặc 02 người từ 11% đến 30% mà kèm tình tiết định khung tại khoản 1 — bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
  • Khoản 4: làm chết người (điểm a); gây thương tích làm biến dạng vùng mặt với tỷ lệ 61% trở lên; gây thương tích cho 02 người trở lên với tỷ lệ mỗi người 61% trở lên; tỷ lệ 61% trở lên hoặc 02 người từ 31% đến 60% kèm tình tiết định khung tại khoản 1 — bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm.
  • Khoản 5: làm chết 02 người trở lên; hoặc gây thương tích cho 02 người trở lên với tỷ lệ mỗi người 61% trở lên kèm tình tiết định khung tại khoản 1 — bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
  • Khoản 6 — hành vi chuẩn bị phạm tội: chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe cho người khác — bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Về cấu thành tội phạm, tội này có lỗi cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp): người phạm tội nhận thức hành vi của mình có thể gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe cho người khác và mong muốn hoặc chấp nhận hậu quả đó. Hành vi khách quan là hành vi gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe (dùng tay chân, hung khí, vũ khí, hóa chất...) có quan hệ nhân quả với hậu quả được xác định qua tỷ lệ tổn thương cơ thể.

Về chủ thể, theo Điều 12 Bộ luật Hình sự: người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 134 — tức chỉ khi hành vi thuộc nhóm khung hình phạt tương ứng mức độ rất nghiêm trọng trở lên (khoản 3 trở lên). Đồng thời, Điều 14 Bộ luật Hình sự quy định người chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 134 phải chịu trách nhiệm hình sự.

2. Khái niệm tỷ lệ tổn thương cơ thể

Tỷ lệ tổn thương cơ thể (viết tắt là tỷ lệ % TTCT) là mức độ tổn hại sức khỏe tính bằng phần trăm, do giám định pháp y xác định. Theo Thông tư 22/2019/TT-BYT, Bộ Y tế ban hành bảng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể (bảng tỷ lệ % TTCT) sử dụng trong giám định pháp y, với nguyên tắc và phương pháp xác định tại Điều 3, Điều 4 của Thông tư: khi một người có nhiều tổn thương thì cộng lồng từng tỷ lệ theo nguyên tắc tổng hợp quy định, tỷ lệ tổng không quá 100%.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể là yếu tố quyết định việc định tội, định khung đối với tội quy định tại Điều 134: dưới 11% thông thường chưa đủ yếu tố cấu thành (trừ trường hợp thuộc tình tiết định khung khoản 1); từ 11% đến 30% là khung cơ bản; từ 31% đến 60% thuộc khoản 2 hoặc khoản 3; từ 61% trở lên thuộc khoản 3 hoặc khoản 4 tùy tình tiết kèm theo. Do đó, kết quả giám định pháp y là một trong những chứng cứ quan trọng nhất trong vụ án.

Cần phân biệt tỷ lệ tổn thương cơ thể (kết quả đánh giá mức độ tổn hại sức khỏe do giám định viên xác định) với khái niệm thương tật thường dùng trong đời sống. Việc giám định do tổ chức giám định pháp y thuộc hệ thống pháp y (Bộ Y tế, Bộ Công an...) thực hiện theo quy định của Luật Giám định tư pháp 2025, do cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu hoặc do bị hại yêu cầu trong các trường hợp luật định.

3. Các tình tiết định khung tăng nặng

Tình tiết định khung của tội cố ý gây thương tích thể hiện ở hai nhóm: (i) nhóm quy định tại điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 — các tình tiết làm tăng tính nguy hiểm của hành vi hoặc thể hiện nhân thân nguy hiểm của người phạm tội, được dùng để chuyển khung kết hợp với các mức tỷ lệ tổn thương cơ thể tại các khoản 2, 3, 4, 5; (ii) nhóm tình tiết độc lập như phạm tội 02 lần trở lên, tái phạm nguy hiểm, làm chết người, làm chết 02 người trở lên.

Một số tình tiết cần lưu ý khi áp dụng:

  • Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người (điểm a khoản 1): bất kỳ công cụ, phương tiện nào được chế tạo hoặc sử dụng với ý đồ gia tăng tác dụng sát thương đều có thể được coi là hung khí nguy hiểm.
  • Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm (điểm b khoản 1): tình tiết này được bổ sung nhằm xử lý nghiêm các vụ tạt a-xít, gây tổn hại nghiêm trọng, kéo dài cho nạn nhân.
  • Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ (điểm c khoản 1); đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình (điểm d khoản 1): người phạm tội lợi dụng sự yếu thế, sự tin tưởng, phụ thuộc của nạn nhân.
  • Có tổ chức (điểm đ khoản 1), thuê gây thương tích hoặc gây thương tích do được thuê (điểm h khoản 1), có tính chất côn đồ (điểm i khoản 1): nhóm tình tiết về phương thức, thủ đoạn thể hiện tính chất chuyên nghiệp hoặc nguy hiểm cao của hành vi.

Khi hành vi chỉ dừng ở mức chuẩn bị phạm tội (khoản 6), người phạm tội vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng hình phạt được quyết định theo Điều 57 Bộ luật Hình sự: đối với hành vi chuẩn bị phạm tội, hình phạt được quyết định trong phạm vi khung hình phạt của điều luật tương ứng, tùy tính chất, mức độ nguy hiểm, mức độ thực hiện ý định phạm tội; nếu chuẩn bị phạm tội mà điều luật quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng tù không quá 20 năm, nếu là tù có thời hạn thì không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định (Điều 57 áp dụng cho cả trường hợp phạm tội chưa đạt theo Điều 15).

4. Phân biệt với tội giết người và tội vô ý gây thương tích

a) Phân biệt với tội giết người (Điều 123)

Điểm mấu chốt phân biệt tội giết người (Điều 123) với tội cố ý gây thương tích làm chết người (điểm a khoản 4 Điều 134) nằm ở ý thức chủ quan của người phạm tội đối với hậu quả chết người:

  • Ở tội giết người, người phạm tội mong muốn hoặc chấp nhận hậu quả nạn nhân chết — lỗi cố ý đối với hậu quả chết người.
  • Ở điểm a khoản 4 Điều 134, người phạm tội chỉ cố ý gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe; hậu quả nạn nhân chết xảy ra ngoài ý muốn của họ.

Thực tiễn xét xử xem xét toàn diện các tình tiết: hung khí sử dụng, vị trí, cường độ tấn công, mối quan hệ giữa các bên, thái độ sau khi gây án... để xác định đúng lỗi chủ quan, tránh bỏ lọt tội hoặc xử sai tội danh. Về mặt chế tài, khung phạt của điểm a khoản 4 Điều 134 là từ 07 đến 14 năm tù, thấp hơn đáng kể so với khung hình phạt của tội giết người.

b) Phân biệt với tội vô ý gây thương tích (Điều 138)

Điều 138 Bộ luật Hình sự quy định tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác: người phạm tội gây thương tích mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm; trường hợp đối với 02 người trở lên có tỷ lệ mỗi người từ 31% đến 60%, hoặc tỷ lệ 61% trở lên, thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ 01 đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm (khoản 2); phạm tội đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ mỗi người 61% trở lên thì phạt cải tạo không giam giữ từ 02 đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 đến 03 năm (khoản 3).

Khác biệt căn bản là lỗi: tội vô ý gây thương tích có lỗi vô ý (vô ý do cẩu thả hoặc vô ý vì quá tự tin) — người phạm tội không mong muốn cũng không chấp nhận hậu quả. Ngoài ra, ngưỡng truy cứu của Điều 138 cao hơn hẳn: chỉ xử lý hình sự khi tỷ lệ từ 31% trở lên, trong khi tội cố ý ở Điều 134 đã truy cứu từ mức 11% đến 30% hoặc dưới 11% kèm tình tiết định khung; trường hợp tổn hại dưới ngưỡng này thường bị xử lý bằng chế tài hành chính và bồi thường dân sự.

5. Thực tiễn giám định thương tật

Trong vụ án cố ý gây thương tích, kết luận giám định pháp y về tỷ lệ tổn thương cơ thể là chứng cứ khoa học quyết định. Trình tự thường diễn ra: sau khi tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm, cơ quan điều tra trưng cầu giám định pháp y thương tích đối với nạn nhân; giám định viên pháp y căn cứ hồ sơ bệnh án và khám trực tiếp để xác định tỷ lệ % TTCT theo bảng tỷ lệ ban hành kèm Thông tư 22/2019/TT-BYT.

Một số điểm nạn nhân và người phạm tội cần lưu ý trong thực tiễn:

  • Kết quả giám định được thực hiện sau khi tình trạng thương tích đã ổn định mới bảo đảm tính chính xác; nạn nhân nên lưu giữ đầy đủ hồ sơ bệnh án, hóa đơn, chứng từ điều trị.
  • Nếu không đồng ý với kết luận giám định, người tham gia tố tụng có quyền đề nghị giám định lại, giám định bổ sung theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự và Luật Giám định tư pháp.
  • Kết luận giám định không tự thay thế việc đánh giá các yếu tố khác của cấu thành tội phạm (lỗi, quan hệ nhân quả, các tình tiết định khung); Tòa án vẫn phải đánh giá toàn diện chứng cứ.

6. Khởi tố theo yêu cầu bị hại và nghĩa vụ bồi thường dân sự

a) Khởi tố vụ án đối với khoản 1 Điều 134 phải có yêu cầu của bị hại

Theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 134 khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại (bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết). Nếu bị hại rút yêu cầu khởi tố thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định việc rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức (khoản 2 Điều 155); người đã rút yêu cầu không có quyền yêu cầu lại (khoản 3 Điều 155). Quy định này nhằm tôn trọng ý chí của bị hại trong các vụ việc có mức độ xâm hại thấp, các bên thường có mối quan hệ láng giềng, thân thích.

Lưu ý: cơ chế khởi tố theo yêu cầu bị hại chỉ áp dụng với khoản 1 của Điều 134; các trường hợp thuộc khoản 2 trở lên được khởi tố theo quy định chung, không phụ thuộc yêu cầu của bị hại.

b) Trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự

Song song trách nhiệm hình sự, người gây thương tích còn phải bồi thường thiệt hại dân sự. Theo Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015, thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm: chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu không xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại); chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc trong thời gian điều trị; thiệt hại khác do luật quy định. Ngoài ra, người gây thiệt hại phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần; nếu các bên không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân sự).

Trong vụ án hình sự, yêu cầu bồi thường thiệt hại có thể được giải quyết trong cùng vụ án; người bị hại cần chuẩn bị các tài liệu chứng minh thiệt hại (hóa đơn viện phí, đơn thuốc, giấy xác nhận thu nhập...) để bảo vệ quyền lợi. Mỗi vụ việc khác nhau về mức độ lỗi, mức độ tổn hại và hoàn cảnh các bên nên mức bồi thường cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể.

Câu hỏi thường gặp

1. Đánh người gây thương tích dưới 11% có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Có thể có. Theo Điều 134 Bộ luật Hình sự, nếu tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp tại điểm a đến điểm k khoản 1 (dùng vũ khí, hung khí nguy hiểm; đối với người dưới 16 tuổi, người già yếu, người không có khả năng tự vệ; có tính chất côn đồ; có tổ chức...) thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường hợp không thuộc các tình tiết này, hành vi thường bị xử phạt hành chính và bồi thường dân sự.

2. Phân biệt tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người và tội giết người?
Căn cứ vào ý thức chủ quan đối với hậu quả chết người: tội giết người (Điều 123 BLHS) là người phạm tội mong muốn hoặc chấp nhận nạn nhân chết; điểm a khoản 4 Điều 134 BLHS là người phạm tội chỉ cố ý gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe nhưng hậu quả nạn nhân chết xảy ra ngoài ý muốn.

3. Bị hại rút yêu cầu khởi tố thì vụ án có đình chỉ không?
Đối với tội phạm thuộc khoản 1 Điều 134 BLHS, việc khởi tố chỉ được thực hiện khi có yêu cầu của bị hại (Điều 155 Bộ luật Tố tụng Hình sự). Nếu bị hại rút yêu cầu và việc rút yêu cầu không do ép buộc, cưỡng bức thì vụ án phải được đình chỉ; người đã rút yêu cầu không có quyền yêu cầu lại.

4. Người gây thương tích phải bồi thường những khoản gì?
Theo Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015, phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; chi phí hợp lý và phần thu nhập bị mất của người chăm sóc trong thời gian điều trị; và khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần (tối đa 50 lần mức lương cơ sở nếu không thỏa thuận được).

Lưu ý khi áp dụng

Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) - Điều 134 về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
  • Bộ luật Hình sự 2015 - Điều 138 về tội vô ý gây thương tích
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp