Xâm phạm quyền tác giả: hình thức và xử lý | Công ty Luật Minh Bạch

Xâm phạm quyền tác giả: hình thức và xử lý

so-huu-tri-tue · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/08
Mục lục:
  1. Quyền tác giả được bảo hộ thế nào
  2. Các hành vi xâm phạm quyền tác giả phổ biến
  3. Căn cứ xác định hành vi xâm phạm
  4. Biện pháp xử lý dân sự, hành chính, hình sự
  5. Bảo vệ quyền tác giả trên môi trường số
  6. Lưu ý khi khiếu nại, khởi kiện

Điều 28. Hành vi xâm phạm quyền tác giả72 1. Xâm phạm quyền nhân thân quy định tại Điều 19 của Luật này. 2. Xâm phạm quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này. 3. Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ quy định tại các điều 25, 25a và 26 của Luật này. 4. Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu biện pháp công nghệ hữu hiệu do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình nhằm thực hiện hành vi quy định tại Điều này và Điều 35 của Luật này. 5. Sản xuất, phân phối, nhập khẩu, chào bán, bán, quảng bá, quảng cáo, tiếp thị, cho thuê hoặc tàng trữ nhằm mục đích thương mại các thiết bị, sản phẩm hoặc linh kiện, giới thiệu hoặc cung cấp dịch vụ khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị, sản phẩm, linh kiện hoặc dịch vụ đó được sản xuất, sử dụng nhằm vô hiệu hóa biện pháp công nghệ hữu hiệu bảo vệ quyền tác giả. 6. Cố ý xóa, gỡ bỏ hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền mà không được Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010. Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của Luật số 07/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2023. phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả khi biết hoặc có cơ sở để biết việc thực hiện hành vi đó sẽ xúi giục, tạo khả năng, tạo điều kiện thuận lợi hoặc che giấu hành vi xâm phạm qu

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Quyền tác giả được bảo hộ thế nào

Quyền tác giả được pháp luật bảo hộ bằng hai lớp chính: xác định rõ hành vi nào là xâm phạm, đồng thời đặt ra cơ chế xử lý đối với người vi phạm. Căn cứ trực tiếp là Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, đã được sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019, 2022. Điều luật này liệt kê các hành vi xâm phạm quyền tác giả, qua đó xác lập “ranh giới pháp lý” cho việc khai thác tác phẩm.

Theo Điều 28, quyền tác giả bị xâm phạm khi tổ chức, cá nhân thực hiện việc chiếm đoạt quyền tác giả; mạo danh tác giả; công bố, phân phối tác phẩm không được phép; sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc tác phẩm gây phương hại đến danh dự, uy tín của tác giả; sao chép, làm tác phẩm phái sinh, truyền đạt tác phẩm đến công chúng, cho thuê tác phẩm mà không được chủ thể quyền cho phép, trừ trường hợp luật cho phép. Như vậy, cơ chế bảo hộ không chỉ bảo vệ lợi ích kinh tế của chủ sở hữu mà còn bảo vệ quyền nhân thân của tác giả.

Ví dụ thực tiễn: một cá nhân lấy bài viết, ảnh, video của người khác đăng lại lên website, kênh mạng xã hội để thu hút quảng cáo nhưng không xin phép, không ghi tên tác giả. Hành vi này có thể đồng thời xâm phạm nhiều quyền: sao chép tác phẩm, truyền đạt tác phẩm đến công chúng, phân phối bản sao, thậm chí mạo danh hoặc xóa thông tin quản lý quyền nếu có. Trường hợp tự ý chỉnh sửa nội dung làm sai lệch tinh thần tác phẩm, gây ảnh hưởng uy tín tác giả, còn có dấu hiệu xuyên tạc tác phẩm theo Điều 28.

Về xử lý, Nghị định 131/2013/NĐ-CP quy định chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan. Tùy tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm có thể bị phạt tiền, buộc chấm dứt hành vi vi phạm, buộc gỡ bỏ bản sao vi phạm, buộc tiêu hủy tang vật vi phạm hoặc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả khác. Nói gọn, quyền tác giả được bảo hộ không chỉ trên giấy tờ mà bằng cơ chế nhận diện hành vi xâm phạm và chế tài đủ sức răn đe.

2. Các hành vi xâm phạm quyền tác giả phổ biến

Các hành vi xâm phạm quyền tác giả phổ biến thường phát sinh khi tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm mà không được phép, không trả tiền quyền tác giả, hoặc làm sai lệch quyền nhân thân, quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Căn cứ Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi 2009, 2019, 2022, hành vi xâm phạm có thể gồm xâm phạm quyền nhân thân, xâm phạm quyền tài sản, vi phạm nghĩa vụ khi sử dụng tác phẩm, xâm phạm thông tin quản lý quyền, biện pháp công nghệ bảo vệ quyền.

Nhóm phổ biến nhất là sao chép, đăng tải, phân phối tác phẩm trái phép. Ví dụ: lấy bài viết, ảnh, video, giáo trình, bản nhạc, phần mềm của người khác đăng lên website, mạng xã hội, sàn thương mại điện tử; in, photocopy, bán sách lậu; tải phim, nhạc lên nền tảng số để thu quảng cáo. Các hành vi này thường xâm phạm quyền tài sản của chủ sở hữu quyền tác giả theo Điều 28.

Nhóm thứ hai là sửa chữa, cắt ghép, phóng tác, sử dụng tác phẩm nhưng không ghi tên tác giả hoặc ghi sai tên tác giả. Ví dụ: doanh nghiệp dùng tranh minh họa của họa sĩ trong chiến dịch quảng cáo, tự ý chỉnh sửa màu sắc, bố cục, xóa chữ ký tác giả. Trường hợp này có thể đồng thời xâm phạm quyền nhân thân, quyền tài sản theo Điều 28.

Nhóm thứ ba là vượt quá phạm vi được phép. Ví dụ: chỉ được cấp phép dùng ảnh trong một bài báo nhưng lại dùng cho quảng cáo; chỉ được biểu diễn nội bộ nhưng phát trực tuyến công khai; mua một bản phần mềm nhưng cài đặt cho nhiều máy ngoài phạm vi giấy phép. Việc “có mua” hoặc “có ghi nguồn” không đương nhiên hợp pháp nếu chưa có quyền sử dụng tương ứng.

Ngoài ra, Điều 28 còn hướng tới các hành vi liên quan môi trường số như gỡ bỏ, thay đổi thông tin quản lý quyền; cung cấp công cụ, thiết bị, dịch vụ nhằm vô hiệu hóa biện pháp công nghệ bảo vệ quyền. Theo Nghị định 131/2013/NĐ-CP, các hành vi xâm phạm quyền tác giả có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, kèm biện pháp khắc phục như buộc chấm dứt vi phạm, gỡ bỏ bản sao vi phạm, tiêu hủy tang vật vi phạm theo quy định.

3. Căn cứ xác định hành vi xâm phạm

Để xác định một hành vi có phải xâm phạm quyền tác giả hay không, trước hết phải đối chiếu với Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019, 2022. Đây là căn cứ pháp lý trung tâm, vì điều luật này liệt kê các hành vi bị coi là xâm phạm quyền tác giả. Nói gọn: không phải mọi việc “dùng tác phẩm của người khác” đều đương nhiên vi phạm; chỉ khi hành vi rơi vào trường hợp Điều 28 quy định thì mới có căn cứ kết luận xâm phạm.

Về thực tiễn, việc nhận diện thường dựa trên 3 nhóm dấu hiệu. Thứ nhất, phải có đối tượng được bảo hộ quyền tác giả, như bài viết, ảnh, nhạc, video, phần mềm, tác phẩm mỹ thuật. Thứ hai, phải xác định được chủ thể quyền: tác giả, đồng tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc người được chuyển giao quyền. Thứ ba, phải có hành vi sử dụng trái phép thuộc phạm vi Điều 28, như sao chép, công bố, phân phối, truyền đạt tác phẩm đến công chúng hoặc khai thác tác phẩm mà không được phép của chủ thể quyền, trừ trường hợp pháp luật cho phép.

Ví dụ, một website tự ý lấy toàn bộ bài viết và hình ảnh từ trang khác, đăng lại để thu hút truy cập và quảng cáo. Trường hợp này, cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét: tác phẩm gốc có được bảo hộ không; ai là chủ thể quyền; việc đăng lại có được cho phép không; hành vi đó có thuộc nhóm hành vi xâm phạm theo Điều 28 không. Nếu đủ các dấu hiệu này, có căn cứ xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả.

Sau khi xác định có xâm phạm, chế tài hành chính được áp dụng theo Nghị định 131/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan. Nghị định này là căn cứ xử lý về mức phạt, biện pháp khắc phục hậu quả và buộc chấm dứt hành vi vi phạm. Vì vậy, Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ là căn cứ nhận diện hành vi; Nghị định 131/2013/NĐ-CP là căn cứ xử lý hành vi đã được xác định.

4. Biện pháp xử lý dân sự, hành chính, hình sự

Biện pháp xử lý dân sự, hành chính, hình sự đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả cần bắt đầu từ việc xác định hành vi có thuộc nhóm hành vi xâm phạm theo Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi 2009, 2019, 2022 hay không. Đây là căn cứ pháp lý trung tâm để phân biệt sử dụng hợp pháp tác phẩm với hành vi xâm phạm quyền tác giả.

Về dân sự, chủ thể quyền có thể yêu cầu người vi phạm chấm dứt hành vi, khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được quyền tác giả, hành vi xâm phạm, thiệt hại, quan hệ nhân quả. Ví dụ: một website tự đăng tải truyện, giáo trình, ảnh nghệ thuật của người khác để thu hút quảng cáo; tác giả có thể yêu cầu gỡ bỏ nội dung, xin lỗi, thanh toán khoản thiệt hại phát sinh.

Về hành chính, hành vi xâm phạm quyền tác giả có thể bị xử phạt theo Nghị định 131/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan. Biện pháp này thường phù hợp khi hành vi rõ ràng, cần xử lý nhanh, như sao chép phần mềm, in lậu sách, sử dụng nhạc trong hoạt động kinh doanh khi chưa được phép. Ngoài xử phạt, cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng biện pháp buộc chấm dứt hành vi, buộc khắc phục hậu quả theo quy định của nghị định này.

Về hình sự, chỉ nên đặt ra khi hành vi có tính chất nghiêm trọng, vượt khỏi phạm vi xử lý dân sự hoặc hành chính. Tuy nhiên, trong phạm vi căn cứ được cung cấp, chưa có nguyên văn điều luật hình sự cụ thể, nên không thể viện dẫn tội danh, mức phạt, điều khoản Bộ luật Hình sự. Khi đánh giá vụ việc, cần thu thập chứng cứ về quyền tác giả, phạm vi sử dụng, yếu tố thương mại, quy mô sao chép, lợi ích thu được, thiệt hại thực tế; sau đó lựa chọn hướng xử lý tương ứng.

5. Bảo vệ quyền tác giả trên môi trường số

Môi trường số làm gia tăng tốc độ sao chép, phát tán, chỉnh sửa, khai thác tác phẩm với chi phí rất thấp, phạm vi ảnh hưởng rất rộng. Vì vậy, bảo vệ quyền tác giả trên internet không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà trước hết là yêu cầu pháp lý. Căn cứ trung tâm là Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, đã được sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019, 2022. Điều luật này xác định các hành vi xâm phạm quyền tác giả, là cơ sở để nhận diện vi phạm khi tác phẩm bị đưa lên website, mạng xã hội, nền tảng chia sẻ nội dung mà không được phép của chủ thể quyền.

Trong thực tiễn, các hành vi thường gặp gồm: đăng lại bài viết, hình ảnh, video; cắt ghép, biên tập lại tác phẩm rồi công bố; sao chép file số để kinh doanh; sử dụng tác phẩm nhằm thu hút lượt xem, quảng cáo, bán hàng nhưng không xin phép, không trả thù lao hoặc không ghi nhận đúng tác giả. Ví dụ, một cá nhân tải trọn bộ ảnh của nhiếp ảnh gia, gắn logo của mình rồi đăng trên fanpage để bán dịch vụ. Trường hợp này có dấu hiệu xâm phạm quyền tác giả theo Điều 28 vì đã chiếm dụng, sao chép, sử dụng tác phẩm trái phép trên môi trường số.

Về xử lý, ngoài yêu cầu chấm dứt hành vi, gỡ bỏ nội dung vi phạm, xin lỗi, cải chính, chủ thể quyền còn có thể đề nghị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 131/2013/NĐ-CP về quyền tác giả, quyền liên quan. Nghị định này là căn cứ áp dụng chế tài hành chính đối với tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm. Trong bối cảnh số, biện pháp hiệu quả thường là kết hợp thu thập chứng cứ điện tử (ảnh chụp màn hình, đường link, thời điểm đăng tải, dữ liệu máy chủ nếu có), gửi yêu cầu gỡ bỏ tới nền tảng, đồng thời yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định.

Do đó, bảo vệ quyền tác giả trên môi trường số đòi hỏi chủ thể quyền chủ động theo dõi việc sử dụng tác phẩm, lưu giữ chứng cứ kịp thời, xác định đúng hành vi theo Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ, từ đó lựa chọn cơ chế xử lý phù hợp theo Nghị định 131/2013/NĐ-CP.

6. Lưu ý khi khiếu nại, khởi kiện

Lưu ý khi khiếu nại, khởi kiện

Khi khiếu nại hoặc khởi kiện hành vi xâm phạm quyền tác giả, chủ thể quyền cần xác định đúng hành vi bị cho là vi phạm theo Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi 2009, 2019, 2022. Trọng tâm không chỉ là “có sử dụng tác phẩm” mà là sử dụng trái phép, không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, hoặc thuộc nhóm hành vi xâm phạm được luật liệt kê. Ví dụ: sao chép bài viết, đăng lại ảnh, cắt ghép video, sử dụng nhạc nền trong quảng cáo, phân phối bản sao tác phẩm mà không có đồng ý hợp pháp.

Chứng cứ quyết định kết quả. Cần lưu bản gốc tác phẩm, thời điểm tạo lập, tài liệu chứng minh quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp, ảnh chụp màn hình, đường dẫn, bản ghi nhận truy cập, hóa đơn, hợp đồng, thư trao đổi. Với nội dung trên nền tảng số, nên lập vi bằng hoặc hình thức ghi nhận khách quan khác trước khi bên vi phạm xóa nội dung. Ví dụ: một doanh nghiệp phát hiện website khác sao chép toàn bộ mô tả sản phẩm, hình ảnh, bài tư vấn; nếu chỉ gửi link mà không lưu chứng cứ thời điểm phát hiện, việc chứng minh về sau sẽ khó hơn.

Cần chọn đúng biện pháp xử lý. Nếu mục tiêu chính là chấm dứt hành vi, gỡ nội dung, xử phạt nhanh, có thể cân nhắc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo Nghị định 131/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quyền tác giả. Nếu yêu cầu bồi thường thiệt hại, xin lỗi, cải chính, buộc chấm dứt hành vi bằng bản án, chủ thể quyền có thể khởi kiện tại Tòa án.

Trước khi nộp đơn, nên gửi thông báo yêu cầu chấm dứt vi phạm. Văn bản cần nêu rõ tác phẩm, căn cứ quyền, hành vi thuộc Điều 28, yêu cầu cụ thể, thời hạn phản hồi. Cách này giúp tạo thiện chí, đồng thời bổ sung chứng cứ về việc bên vi phạm đã được cảnh báo nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019, 2022) - Điều 28 về hành vi xâm phạm quyền tác giả
  • Nghị định 131/2013/NĐ-CP - xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp