Điều 133. Quyền sử dụng sáng chế nhân danh Nhà nước
Điều 133. Quyền sử dụng sáng chế nhân danh Nhà nước
1. Bộ, cơ quan ngang bộ có quyền nhân danh Nhà nước sử dụng hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng sáng chế thuộc lĩnh vực quản lý của mình nhằm mục đích công cộng, phi thương mại, phục vụ quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho Nhân dân và đáp ứng các nhu cầu cấp thiết khác của xã hội mà không cần sự đồng ý của chủ sở hữu sáng chế hoặc người được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo hợp đồng độc quyền theo quy định tại Điều 145 và Điều 146 của Luật này.
Nguồn: Luật Sở hữu trí tuệ (hợp nhất) — Toàn văn tại Luật Minh Bạch
Điều 133 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, đã được sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019 và 2022, thiết lập cơ chế đặc biệt cho phép Nhà nước sử dụng hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng sáng chế mà không cần sự đồng ý của chủ sở hữu trong những trường hợp cần thiết vì mục đích công cộng, quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho Nhân dân hoặc đáp ứng nhu cầu cấp thiết khác của xã hội. Bản chất của cơ chế này là một giới hạn đối với quyền độc quyền sử dụng sáng chế của chủ sở hữu theo Điều 123 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, nhưng không làm chấm dứt quyền sở hữu đối với sáng chế.
Về phương diện pháp lý, quyền sử dụng sáng chế nhân danh Nhà nước không đồng nhất với hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo Điều 134 và Điều 135 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Điểm khác biệt cốt lõi là căn cứ phát sinh quyền sử dụng nằm ở quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền vì lợi ích công, không phải ở sự thỏa thuận dân sự của các bên. Tuy vậy, Điều 133 vẫn bảo đảm lợi ích chính đáng của chủ sở hữu khi quy định họ phải được trả tiền đền bù thỏa đáng theo phạm vi và thời hạn sử dụng được quyết định.
Điều 133 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019 và 2022, quy định cơ chế Nhà nước không nhận chuyển quyền sở hữu sáng chế mà chỉ quyết định quyền sử dụng sáng chế nhân danh Nhà nước trong trường hợp cần thiết. Các căn cứ được nêu trực tiếp tại điều luật này gồm: phục vụ mục đích công cộng, quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân hoặc đáp ứng các nhu cầu cấp thiết khác của xã hội. Về bản chất, đây là một giới hạn đặc biệt đối với quyền độc quyền của chủ bằng độc quyền sáng chế đã được xác lập theo Điều 123 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, hợp nhất hiện hành.
Điều kiện áp dụng nằm ở chỗ việc sử dụng phải do Chính phủ quyết định, thực hiện nhân danh Nhà nước và gắn với nhu cầu công cộng đã được luật định tại Điều 133 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Chủ sở hữu sáng chế vẫn giữ quyền sở hữu, nhưng có quyền nhận bồi hoàn thỏa đáng theo quy định pháp luật. Cơ chế này cần phân biệt với hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo Điều 134 và Điều 135 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, vì ở đây ý chí của chủ sở hữu không phải là căn cứ làm phát sinh quyền sử dụng.
Điều 133 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019, 2022, cho phép Nhà nước quyết định sử dụng sáng chế mà không cần sự đồng ý của chủ sở hữu trong trường hợp cần thiết vì mục đích công cộng, quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân hoặc đáp ứng nhu cầu cấp thiết khác của xã hội. Đây là cơ chế can thiệp đặc biệt vào quyền tài sản đối với sáng chế, nhưng không làm dịch chuyển quyền sở hữu. Cách hiểu này phù hợp với Điều 123 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 về quyền của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp: chủ sở hữu vẫn là người nắm quyền sở hữu, chỉ bị hạn chế quyền khai thác độc quyền trong phạm vi quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Giới hạn của cơ chế này nằm ở chỗ Nhà nước chỉ được “sử dụng” sáng chế, không đương nhiên nhận chuyển nhượng hay thay thế chủ thể quyền; chủ sở hữu vẫn được bồi hoàn theo Điều 133. Đồng thời, việc sử dụng nhân danh Nhà nước không đồng nhất với hợp đồng chuyển quyền sử dụng giữa các chủ thể tư theo Điều 134 và Điều 135 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, vì nó phát sinh từ quyết định công quyền, không phải từ thỏa thuận. Do đó, phạm vi sử dụng phải bám sát lý do công ích đã được xác định, không thể mở rộng tùy tiện sang mục đích thương mại thuần túy hoặc vượt quá nhu cầu cần thiết của Nhà nước.
Điều 133 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, đã được sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019 và 2022, cho phép Nhà nước quyết định quyền sử dụng sáng chế mà không cần sự đồng ý của chủ sở hữu trong trường hợp cần thiết vì mục đích công cộng, quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân hoặc đáp ứng nhu cầu cấp thiết khác của xã hội. Tuy nhiên, cơ chế này không làm dịch chuyển quyền sở hữu sáng chế sang Nhà nước. Cấu trúc quyền gốc của chủ sở hữu vẫn được bảo lưu theo Điều 123 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, tức chủ sở hữu vẫn nắm quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với sáng chế, trừ phạm vi sử dụng bị giới hạn bởi quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Hệ quả pháp lý quan trọng là chủ sở hữu có quyền nhận khoản bồi hoàn tương xứng với giá trị sử dụng sáng chế theo quyết định sử dụng nhân danh Nhà nước, đúng tinh thần Điều 133 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Về bản chất, đây không phải hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo Điều 134 và Điều 135 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, vì việc sử dụng phát sinh từ quyết định công quyền, không từ thỏa thuận dân sự. Do đó, việc xác định mức bồi hoàn phải bám vào phạm vi, thời hạn và mục đích sử dụng thực tế, bảo đảm cân bằng giữa lợi ích công cộng và quyền tài sản của chủ sở hữu.
Quyền sử dụng sáng chế nhân danh Nhà nước theo Điều 133 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi 2009, 2019, 2022, không phát sinh từ hợp đồng li-xăng thông thường, mà từ quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi có căn cứ phục vụ mục đích công cộng, quốc phòng, an ninh, dân sinh. Về bản chất, đây là giới hạn quyền độc quyền của chủ sở hữu sáng chế được xác lập theo Điều 123 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, không phải chuyển giao quyền sở hữu sáng chế.
Thủ tục cần thể hiện rõ nhu cầu sử dụng, phạm vi sáng chế, chủ thể được sử dụng, thời hạn, mục đích, mức bồi hoàn cho chủ sở hữu theo Điều 133 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi 2022. Khi áp dụng, cần phân biệt với quyền sử dụng trước tại Điều 134 và nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả sáng chế tại Điều 135 Luật Sở hữu trí tuệ 2005; nếu là chuyển quyền sử dụng theo thỏa thuận, căn cứ chính là các điều về hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, không phải Điều 133.
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.