Điều 90. Bảo quản vật chứng 1. Vật chứng phải được bảo quản nguyên vẹn, không để mất mát, lẫn lộn, hư hỏng. Việc bảo quản vật chứng được thực hiện như sau: a) Vật chứng cần được niêm phong thì phải niêm phong ngay sau khi thu thập. Việc niêm phong, mở niêm phong được lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án. Việc niêm phong, mở niêm phong vật chứng được thực hiện theo quy định của Chính phủ; b) Vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, vũ khí quân dụng phải được giám định ngay sau khi thu thập và phải chuyển ngay để bảo quản tại Kho bạc Nhà nước hoặc cơ quan chuyên trách khác. Nếu vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ lưu dấu vết của tội phạm thì tiến hành niêm phong theo quy định tại điểm a khoản này; vật chứng là vi khuẩn nguy hại, bộ phận cơ thể người, mẫu mô, mẫu máu và các mẫu vật khác của cơ thể người được bảo quản tại cơ quan chuyên trách theo quy định của pháp luật; c) Vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng giao vật chứng đó cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp đồ vật, tài sản hoặc người thân thích của họ hoặc Ủy ban nhân dân[31], cơ quan, tổ chức nơi có vật chứng bảo quản; d) Vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì cơ quan có thẩm quyền trong phạm vi quyền hạn của mình quyết định bán theo quy định của pháp luật và chuyển tiền đến tài khoản tạm giữ của cơ quan có thẩm quyền tại Kho bạc
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội được quy định tại Chương XII (Điều 90 đến 107) Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và 2025, với tinh thần xuyên suốt là bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh. Điều 91 BLHS là điều luật nền tảng, quy định việc xử lý người dưới 18 tuổi phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức về tính chất nguy hiểm của hành vi, nguyên nhân và điều kiện phạm tội, đồng thời hạn chế tối đa việc áp dụng hình phạt tù. Các nguyên tắc cụ thể gồm: (1) Không xử phạt tù đối với người dưới 16 tuổi, trừ trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng (khoản 2 Điều 100 BLHS); (2) Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi chỉ bị phạt tù khi không có căn cứ cho áp dụng biện pháp thay thế và mức phạt nhẹ hơn so với người thành niên (khoản 5, 6 Điều 101 BLHS); (3) Không áp dụng hình phạt tử hình, tù chung thân, tù trên 18 năm (Điều 99, 100 BLHS); (4) Ưu tiên áp dụng biện pháp thay thế như khiển trách, hòa giải tại cộng đồng, giáo dục tại xã phường hoặc đưa vào trường giáo dưỡng (Điều 92, 93 BLHS). Trong thực tiễn, Tòa án thường áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường đối với người 16 tuổi trộm cắp lần đầu, giá trị tài sản nhỏ, thay vì phạt tù, tạo điều kiện cho các em tiếp tục học tập. Tuy nhiên, đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng như giết người hoặc cướp tài sản có tổ chức, việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn vẫn được xem xét nhưng với thời hạn thấp hơn mức tối đa áp dụng cho người thành niên. Những nguyên tắc này thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước, đồng thời bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa chung.
Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên được quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và 2025, thuộc Chương XII (các Điều 90 đến 107). Theo đó, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Như vậy, độ tuổi tối thiểu để có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự là 14 tuổi. Trước độ tuổi này, mọi hành vi nguy hiểm cho xã hội của trẻ em đều được xử lý bằng biện pháp giáo dục, hỗ trợ theo pháp luật bảo vệ trẻ em và xử lý vi phạm hành chính, không phải bằng hình phạt hình sự. Đây là nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam, phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em.
Trong thực tiễn, việc xác định chính xác độ tuổi của người phạm tội có ý nghĩa quyết định. Ví dụ, một người 15 tuổi cố ý gây thương tích dẫn đến tỷ lệ thương tật 31% (thuộc tội phạm nghiêm trọng) thì không phải chịu trách nhiệm hình sự vì chưa đủ 16 tuổi và tội này không thuộc nhóm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Ngược lại, nếu người 15 tuổi thực hiện hành vi giết người (tội đặc biệt nghiêm trọng) thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định.
Ngoài ra, theo Điều 90 Bộ luật Hình sự, việc xử lý người chưa thành niên phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người đó, chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích. Các biện pháp thay thế xử lý hình sự như khiển trách, hòa giải tại cộng đồng, giáo dục tại xã phường thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng được ưu tiên áp dụng thay vì hình phạt tù, thể hiện chính sách nhân đạo và phòng ngừa đặc thù đối với người chưa thành niên.
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) dành Chương XII (Điều 90 đến Điều 107) quy định riêng về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên. Về hình phạt, Điều 98 liệt kê các hình phạt chính có thể áp dụng gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn. Hình phạt tù chung thân và tử hình tuyệt đối không áp dụng với người dưới 18 tuổi theo Điều 100. Đây là nguyên tắc nhân đạo xuyên suốt, bảo đảm người chưa thành niên luôn có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng.
Mức phạt tù có thời hạn được giảm nhẹ đáng kể so với người đủ 18 tuổi. Điều 101 quy định: người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi chỉ chịu mức phạt tối đa 18 năm nếu khung hình phạt có tù chung thân hoặc tử hình, và không quá ba phần tư mức phạt tù có thời hạn mà điều luật quy định. Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi có mức trần thấp hơn: tối đa 12 năm đối với khung có chung thân/tử hình và không quá một phần hai mức phạt tù có thời hạn. Trong thực tiễn, một người 15 tuổi phạm tội giết người (khung hình phạt có tử hình) chỉ có thể bị tuyên tối đa 12 năm tù; mức án cụ thể thường thấp hơn do Tòa án cân nhắc thêm các tình tiết giảm nhẹ khác theo Điều 91.
Hình phạt cải tạo không giam giữ áp dụng cho người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi, thời hạn không quá một phần hai so với người trưởng thành (Điều 99). Hình phạt bổ sung bao gồm phạt tiền (Điều 103) và cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định (Điều 104). Ngoài ra, tinh thần của Chương XII khuyến khích áp dụng các biện pháp thay thế hình phạt như giáo dục tại xã, phường (Điều 94) hoặc đưa vào trường giáo dưỡng (Điều 95) khi tội phạm ít nghiêm trọng và các điều kiện luật định được đáp ứng, thể hiện ưu tiên giáo dục, phục hồi hơn là trừng phạt đối với người chưa thành niên.
Biện pháp tư pháp thay thế trong xử lý người chưa thành niên phạm tội được quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025), bao gồm chủ yếu hai biện pháp: giáo dục tại cộng đồng (Điều 91) và giáo dục tại trường giáo dưỡng (Điều 92). Đây là các biện pháp được áp dụng thay cho truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành hình phạt tù, nhằm mục đích giáo dục, cảm hóa, tạo điều kiện cho người chưa thành niên cải tạo và tái hòa nhập cộng đồng.
Theo Điều 91, biện pháp giáo dục tại cộng đồng được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng khi đáp ứng đủ điều kiện về nhân thân, thái độ ăn năn hối cải và có sự đồng ý, cam kết của gia đình hoặc tổ chức nhận giám sát. Cơ quan có thẩm quyền giao người chưa thành niên cho gia đình, tổ chức, chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời hạn từ 01 năm đến 02 năm.
Theo Điều 92, giáo dục tại trường giáo dưỡng được áp dụng khi người chưa thành niên không có nơi cư trú ổn định, môi trường gia đình không thuận lợi cho giáo dục, hoặc đã từng được áp dụng biện pháp giáo dục tại cộng đồng nhưng tái phạm. Thời hạn áp dụng từ 01 năm đến 04 năm.
Ví dụ thực tiễn: Một thiếu niên 16 tuổi phạm tội trộm cắp tài sản giá trị nhỏ, lần đầu phạm tội, có gia đình ổn định, thái độ ăn năn hối cải. Cơ quan tiến hành tố tụng có thể đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp giáo dục tại cộng đồng thay vì tuyên phạt tù. Thiếu niên tiếp tục sinh hoạt trong môi trường gia đình, đồng thời chịu sự giám sát của chính quyền địa phương và tổ chức đoàn thể.
Việc áp dụng biện pháp tư pháp thay thế thể hiện nguyên tắc tại Điều 90 về xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội: ưu tiên các biện pháp giáo dục, cảm hóa; chỉ áp dụng hình phạt khi thực sự cần thiết, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và khả năng cải tạo của người chưa thành niên.
Theo Chương XII Bộ luật Hình sự 2015 (đã sửa đổi, bổ sung 2017), việc áp dụng biện pháp đối với người chưa thành niên (NCTN) tuân thủ nguyên tắc giáo dục, nhân đạo, tối thiểu hóa can thiệp hình sự (Điều 90, Điều 91). Mục tiêu tối thượng là phòng ngừa tái phạm, giúp NCTN sửa chữa sai lầm, hòa nhập cộng đồng, không để tiền án ảnh hưởng tương lai.
Về thời hạn áp dụng các biện pháp chính:
Nguyên tắc cốt lõi: Tính bắt buộc của thời hạn (không được gia hạn tùy tiện), tính linh hoạt nhân văn (chấm dứt sớm khi đạt mục đích giáo dục), tính ưu tiên biện pháp không giam giữ (Điều 91 khoản 3).
Ví dụ thực tiễn: NCTN L. (16 tuổi) phạm tội Trộm cắp tài sản (Điều 173), giá trị 5 triệu đồng, lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ nhiều. Tòa án áp dụng Biện pháp giáo dục tại xã, phường trong 18 tháng (Điều 95, 96). Sau 10 tháng, L. học tốt, giúp việc nhà, xã xác nhận tiến bộ. Tòa án huyện xem xét, quyết định miễn trừ 8 tháng còn lại theo Điều 100 khoản 2. L. không có tiền án, tiếp tục đi học bình thường. Điều này thể hiện tinh thần "giáo dục chính là mục đích, hình phạt chỉ là biện pháp cuối cùng".
Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) tại các Điều 90 đến 107 thiết lập nền tảng pháp lý bảo đảm quyền của người chưa thành niên trong tố tụng hình sự. Điều 90 quy định nguyên tắc xử lý ưu tiên lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên, hạn chế áp dụng biện pháp tước tự do, đồng thời yêu cầu việc điều tra, truy tố, xét xử phải bảo đảm quyền được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ; quyền có người bào chữa; quyền có người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng. Trên thực tế, tại các phiên tòa xét xử người dưới 18 tuổi, Tòa án thường bố trí phòng xử riêng, cho phép cha mẹ hoặc người giám hộ ngồi gần bị cáo để hỗ trợ tâm lý, đúng với tinh thần của Điều 90 và 107 BLHS. Điều 107 BLHS trực tiếp dẫn chiếu việc áp dụng thủ tục tố tụng thân thiện, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi; theo đó, người chưa thành niên có quyền được xét xử kín khi có yêu cầu hoặc do tính chất vụ án, được tham gia đối chất trong môi trường không áp lực. Bên cạnh đó, Điều 91 BLHS quy định các biện pháp thay thế xử lý hình sự như khiển trách, hòa giải tại cộng đồng, giáo dục tại xã, phường; những biện pháp này giúp người chưa thành niên tránh tiếp xúc với môi trường tố tụng chính thức và giảm thiểu tổn thương tâm lý. Về thực tiễn, cơ quan điều tra thường áp dụng biện pháp ngăn chặn không tạm giam đối với người chưa thành niên nếu có nơi cư trú rõ ràng, bảo đảm quyền được học tập và lao động trong thời gian giải quyết vụ án. Như vậy, hệ thống quyền của người chưa thành niên trong tố tụng được BLHS quy định một cách toàn diện, vừa bảo đảm công bằng xét xử, vừa giữ vững chính sách nhân đạo và giáo dục đặc thù.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.