Điều 354. Thủ tục phiên tòa phúc thẩm 1. Thủ tục bắt đầu phiên tòa và thủ tục tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm được tiến hành như phiên tòa sơ thẩm nhưng trước khi xét hỏi, một thành viên của Hội đồng xét xử trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung kháng cáo, kháng nghị. 2. Chủ tọa phiên tòa hỏi người kháng cáo có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo hay không; nếu có thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên trình bày ý kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo. Chủ tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị hay không; nếu có thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu bị cáo và những người liên quan đến kháng nghị trình bày ý kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị. 3. Khi tranh tụng tại phiên tòa, Kiểm sát viên, người khác liên quan đến kháng cáo, kháng nghị phát biểu ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị; Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Hành vi đưa hối lộ là việc người có lợi ích trực tiếp hoặc qua trung gian dùng tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác hoặc lợi ích phi vật chất để tác động người có chức vụ, quyền hạn, nhằm làm hoặc không làm một việc vì lợi ích của người đưa hối lộ. Hành vi này bị xem xét theo Điều 364 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi nhận hối lộ là việc người có chức vụ, quyền hạn nhận hoặc thỏa thuận nhận tiền, tài sản, lợi ích khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Hành vi này thuộc Điều 354 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Điểm cốt lõi: không chỉ hành vi “đã nhận tiền” mới cấu thành; thỏa thuận nhận, nhận qua trung gian, hoặc nhận để đổi lấy việc can thiệp trái công vụ đều là biểu hiện điển hình. Bản chất là lợi dụng quan hệ công vụ để trao đổi lợi ích, làm sai lệch tính khách quan của hoạt động nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức.
Ví dụ thực tiễn: cán bộ giải quyết hồ sơ yêu cầu “bôi trơn” để đẩy nhanh thủ tục; doanh nghiệp đưa tiền cho người có thẩm quyền để được cấp phép trái quy định; người quản lý dự án nhận quà, tiền để bỏ qua sai phạm nghiệm thu. Trong các tình huống này, bên đưa có dấu hiệu theo Điều 364, bên nhận có dấu hiệu theo Điều 354.
Về tố tụng, khi có dấu hiệu tham nhũng, cơ quan có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết nguồn tin, khởi tố, điều tra theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Bộ luật này quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, đồng thời bảo đảm phát hiện chính xác, xử lý kịp thời mọi hành vi phạm tội.
Như vậy, đưa hối lộ là chủ động trao lợi ích để mua tác động; nhận hối lộ là chủ động hoặc thỏa thuận nhận lợi ích để đổi công vụ. Cả hai đều là hành vi nguy hiểm, bị xử lý hình sự khi có đủ dấu hiệu luật định.
Cấu thành tội nhận hối lộ theo Điều 354 Bộ luật Hình sự 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn nhận lợi ích để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu liên quan đến công vụ. Đây là tội phạm tham nhũng, xâm hại trực tiếp đến sự liêm chính của hoạt động công vụ; việc phát hiện, xử lý phải tuân thủ trình tự tố tụng hình sự của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Về mặt cấu thành, chủ thể phải là người có chức vụ, quyền hạn. Khách thể là trật tự quản lý công vụ, uy tín của cơ quan, tổ chức và sự đúng đắn trong thực thi nhiệm vụ. Mặt khách quan thể hiện ở hành vi nhận, thỏa thuận nhận hoặc yêu cầu lợi ích; hành vi này thường gắn với việc giải quyết hồ sơ, cấp phép, thanh tra, kiểm tra, xét xử, hoặc các quyết định hành chính. Mặt chủ quan là lỗi cố ý trực tiếp: người phạm tội biết rõ việc nhận lợi ích là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện.
Phân biệt với Điều 364 BLHS: tội đưa hối lộ là hành vi của bên chủ động chuyển lợi ích để tác động đến người có chức vụ, quyền hạn; còn tội nhận hối lộ là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn tiếp nhận lợi ích. Trong thực tiễn, hai tội danh thường phát sinh cùng một giao dịch, nhưng phải định tội riêng theo vai trò của từng người.
Ví dụ thực tiễn: cán bộ phụ trách cấp giấy tờ nhận tiền để ưu tiên giải quyết hồ sơ, hoặc nhận quà để bỏ qua vi phạm trong thanh tra. Dấu hiệu này thường đủ căn cứ xác định hành vi nhận hối lộ; người đưa tiền có thể bị xem xét theo Điều 364. Khi có dấu hiệu tham nhũng, cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận nguồn tin, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo BLTTHS 2015.
Cấu thành tội đưa hối lộ (Điều 364 BLHS 2015) là hành vi của người có tiền, tài sản, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác để đưa cho người có chức vụ, quyền hạn, nhằm tác động người đó thực hiện hoặc không thực hiện công vụ theo yêu cầu. Tội phạm này xâm phạm sự đúng đắn, liêm chính trong hoạt động của cơ quan, tổ chức; đồng thời làm suy giảm uy tín của bộ máy nhà nước. Căn cứ pháp lý trực tiếp là Điều 364 Bộ luật Hình sự 2015.
Về mặt khách quan, hành vi cốt lõi là “đưa” hối lộ, tức chủ động chuyển giao tiền, tài sản hoặc lợi ích khác. Việc đưa có thể diễn ra trực tiếp hoặc qua trung gian; mục đích thường là xin việc, xin giảm nhẹ xử lý, xin bỏ qua vi phạm, xin ưu ái trong giải quyết thủ tục. Chỉ khi có hành vi đưa kèm mục đích tác động đến người có chức vụ, quyền hạn thì mới đặt vấn đề trách nhiệm hình sự theo Điều 364.
Về chủ thể, người thực hiện là cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự, không phụ thuộc địa vị xã hội. Về mặt chủ quan, lỗi là cố ý; người phạm tội nhận thức rõ hành vi đưa lợi ích trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện để đạt lợi ích cho mình hoặc cho người khác.
Ví dụ thực tiễn: doanh nghiệp đưa tiền cho cán bộ để được ưu tiên cấp phép; người vi phạm giao thông đưa tiền cho người thi hành công vụ để bỏ qua lỗi; cá nhân tặng “quà” có giá trị nhằm đổi lấy việc sửa kết quả giải quyết hồ sơ. Các tình huống này đều có dấu hiệu của hành vi đưa hối lộ nếu mục đích là tác động trái pháp luật đến người có chức vụ, quyền hạn.
Về hình phạt, Điều 364 BLHS 2015 quy định nhiều khung, tùy giá trị lợi ích đưa hối lộ, tính chất, mức độ và tình tiết liên quan. Khi phát hiện dấu hiệu tội phạm tham nhũng, việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin, khởi tố, điều tra được thực hiện theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, theo trình tự chung về tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.
Lưu ý: phân biệt với tội nhận hối lộ ở chỗ bên đưa là người chủ động giao lợi ích; bên nhận là người có chức vụ, quyền hạn nhận lợi ích để làm hoặc không làm công vụ.
Tình tiết tăng nặng, định khung hình phạt trong tội đưa hối lộ và tội nhận hối lộ được xác định theo Điều 364 và Điều 354 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Cả hai tội đều thuộc nhóm tội phạm tham nhũng, nên việc lượng hình không chỉ nhìn vào hành vi nhận hay đưa tiền, tài sản, mà còn phải xem xét tính chất vụ lợi, quy mô, hậu quả, mức độ tác động đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức.
Về định khung hình phạt, khi hành vi hối lộ đạt mức độ nghiêm trọng hơn thì sẽ bị đẩy vào khung nặng hơn theo chính điều luật tương ứng. Thực tiễn xét xử thường cho thấy: hối lộ có giá trị lớn, có tính chất nhiều lần, có tổ chức, gắn với việc giải quyết công vụ, thanh tra, cấp phép, xét xử, đấu thầu, tuyển dụng... thì nguy cơ bị đánh giá ở khung cao là rất lớn. Ngược lại, trường hợp giá trị hối lộ nhỏ, người phạm tội thành khẩn, chủ động hợp tác, khắc phục hậu quả, có thể được xem xét trong giới hạn của khung nhẹ hơn hoặc là tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt.
Riêng tội đưa hối lộ, pháp luật hình sự còn có hướng xử lý nhân văn đối với người chủ động tố giác, khai báo trước khi bị phát giác, nhằm khuyến khích hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng. Ví dụ: doanh nghiệp đưa tiền cho người có chức vụ, quyền hạn để được bỏ qua vi phạm trong cấp phép; nếu vụ việc bị phát hiện, cả bên đưa và bên nhận đều có thể bị xử lý theo điều luật tương ứng, mức hình phạt phụ thuộc vai trò, giá trị lợi ích bất chính và hậu quả gây ra.
Về tố tụng, vụ án tham nhũng được giải quyết theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bảo đảm trình tự tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Khi có dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm quyền phải thụ lý, xác minh và khởi tố đúng thủ tục, tránh bỏ lọt tội phạm, đồng thời bảo đảm quyền con người, quyền công dân.
Trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự đối với tội đưa hối lộ theo Điều 364 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và tội nhận hối lộ theo Điều 354 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) là ngoại lệ, áp dụng hẹp. Không phải mọi trường hợp có hành vi đưa, nhận lợi ích đều mặc nhiên bị xử lý hình sự; cơ quan có thẩm quyền phải xem xét đầy đủ nguồn tin, tính chất hành vi, mức độ tham gia, hậu quả, khả năng khắc phục và các tình tiết luật định.
Theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, trình tự tố tụng được thực hiện qua các bước tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Điều 1 và Điều 2 của Bộ luật này nhấn mạnh yêu cầu phát hiện chính xác, xử lý công minh, kịp thời, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Vì vậy, khi có tố giác hoặc nguồn tin liên quan hành vi hối lộ, cơ quan có thẩm quyền phải kiểm tra, xác minh trước khi quyết định khởi tố vụ án tham nhũng.
Trong thực tiễn, người đưa hối lộ hoặc người nhận hối lộ có thể được xem xét miễn trách nhiệm hình sự khi có các dấu hiệu giảm nhẹ đặc biệt, nhất là chủ động khai báo, thành khẩn hợp tác với cơ quan có thẩm quyền, tự nguyện khắc phục hậu quả. Ví dụ: cá nhân đã đưa lợi ích để xin giải quyết việc, sau đó tự giác trình báo ngay khi vụ việc chưa bị phát giác, nộp lại toàn bộ tài sản liên quan, cung cấp thông tin giúp làm rõ đường dây thì khả năng được xem xét miễn trách nhiệm hình sự sẽ cao hơn so với trường hợp bị phát hiện mới khai báo.
Ngược lại, nếu hành vi đã bị phát hiện, có dấu hiệu che giấu, đối phó, tẩu tán tài sản, hoặc không hợp tác, thì khó được áp dụng miễn trách nhiệm hình sự. Với nhóm tội tham nhũng, điểm mấu chốt là thời điểm khai báo, mức độ hợp tác, khả năng thu hồi tài sản, và căn cứ do cơ quan tiến hành tố tụng xác lập trong hồ sơ vụ án.
Trách nhiệm của doanh nghiệp khi đưa hối lộ không thể nhìn như một “chi phí giao dịch”. Khi doanh nghiệp dùng tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác để tác động người có chức vụ, quyền hạn, hành vi đó có dấu hiệu tội đưa hối lộ theo Điều 364 Bộ luật Hình sự 2015. Nếu bên nhận là người có chức vụ, quyền hạn, hành vi tương ứng có dấu hiệu tội nhận hối lộ theo Điều 354 Bộ luật Hình sự 2015. Doanh nghiệp cần hiểu: việc giao tiền qua giám đốc, trưởng phòng, nhân viên hay đơn vị trung gian không làm mất bản chất vi phạm.
Về thực tiễn, nhiều vụ việc phát sinh từ nhu cầu xin giấy phép, thông quan, đấu thầu, kiểm tra chuyên ngành, nghiệm thu. Ví dụ: một công ty giao cho cán bộ kinh doanh “bôi trơn” để hồ sơ được giải quyết nhanh. Nếu có đủ căn cứ, người trực tiếp thực hiện, người chỉ đạo, người đồng ý chủ trương đều có thể bị xem xét trách nhiệm theo Điều 364; phía người nhận tiền bị xem xét theo Điều 354. Doanh nghiệp vì vậy phải coi kiểm soát nội bộ, phân quyền phê duyệt, lưu vết thanh toán là yêu cầu bắt buộc.
Về tố tụng, khi có nguồn tin về hành vi đưa hối lộ, cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết nguồn tin, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo Điều 1 và Điều 2 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Nghĩa là vụ việc không dừng ở xử lý nội bộ hay thương lượng riêng; một khi có dấu hiệu tội phạm, Nhà nước có trách nhiệm phát hiện, xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm. Doanh nghiệp nên chủ động ngừng hành vi, bảo toàn chứng cứ, hợp tác điều tra, rà soát quy trình tuân thủ để giảm rủi ro pháp lý.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.