Điều 66. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng quyền chọn 1. Bên mua quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán phải trả tiền mua quyền chọn để được trở thành bên giữ quyền chọn mua hoặc giữ quyền chọn bán. Số tiền phải trả cho việc mua quyền chọn do các bên thoả thuận. 2. Bên giữ quyền chọn mua có quyền mua nhưng không có nghĩa vụ phải mua hàng hoá đã giao kết trong hợp đồng. Trường hợp bên giữ quyền chọn mua quyết định thực hiện hợp đồng thì bên bán có nghĩa vụ phải bán hàng hoá cho bên giữ quyền chọn mua. Trường hợp bên bán không có hàng hoá để giao thì phải thanh toán cho bên giữ quyền chọn mua một khoản tiền bằng mức chênh lệch giữa giá thoả thuận trong hợp đồng và giá thị trường do Sở giao dịch hàng hoá công bố tại thời điểm hợp đồng được thực hiện. 3. Bên giữ quyền chọn bán có quyền bán nhưng không có nghĩa vụ phải bán hàng hoá đã giao kết trong hợp đồng. Trường hợp bên giữ quyền chọn bán quyết định thực hiện hợp đồng thì bên mua có nghĩa vụ phải mua hàng hoá của bên giữ quyền chọn bán. Trường hợp bên mua không mua hàng thì phải thanh toán cho bên giữ quyền chọn bán một khoản tiền bằng mức chênh lệch giữa giá thị trường do Sở giao dịch hàng hoá công bố tại thời điểm hợp đồng được thực hiện và giá thoả thuận trong hợp đồng. 4. Trường hợp bên giữ quyền chọn mua hoặc giữ quyền chọn bán quyết định không thực hiện hợp đồng trong thời hạn hợp đồng có hiệu lực thì hợp đồng đương nhiên hết hiệu lực.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Phán quyết trọng tài thương mại có hiệu lực chung thẩm kể từ ngày ban hành và có tính bắt buộc đối với các bên tranh chấp. Theo Điều 66 Luật Trọng tài thương mại 2010, bên thua kiện có nghĩa vụ tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài ngay sau khi nhận được phán quyết. Khác với bản án của Tòa án, phán quyết trọng tài không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; tính chung thẩm này là nguyên tắc cốt lõi bảo đảm hiệu quả của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
Nếu bên có nghĩa vụ không tự nguyện thi hành, bên được thi hành có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền cưỡng chế thi hành theo quy định tại khoản 2 Điều 66 Luật Trọng tài thương mại 2010. Điều 8 Luật này cũng xác định thẩm quyền của Tòa án trong việc xem xét, giải quyết các yêu cầu liên quan đến hoạt động trọng tài, bao gồm cả yêu cầu hủy phán quyết trọng tài — một ngoại lệ duy nhất có thể làm mất hiệu lực thi hành của phán quyết.
Việc thi hành phán quyết trọng tài được thực hiện theo thủ tục thi hành án dân sự. Điều 2 Luật Thi hành án dân sự 2008 quy định phạm vi thi hành án bao gồm bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác theo quy định của pháp luật, trong đó có phán quyết trọng tài thương mại. Nguyên tắc thi hành án tại Điều 7 Luật này nhấn mạnh tính tự nguyện là ưu tiên hàng đầu, chỉ áp dụng biện pháp cưỡng chế khi bên có nghĩa vụ không tự nguyện thi hành đúng hạn. Trên thực tế, một phán quyết trọng tài chỉ phát huy đầy đủ hiệu lực thực tiễn khi được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước thông qua cơ chế thi hành án dân sự — đây là điểm tựa pháp lý quan trọng để trọng tài thương mại thực sự là kênh giải quyết tranh chấp hiệu quả tại Việt Nam.
Phán quyết trọng tài thương mại là chung thẩm và có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành (Điều 66 Luật Trọng tài thương mại 2010). Tuy nhiên, khác với bản án của Tòa án, phán quyết trọng tài không được thi hành ngay bởi cơ quan thi hành án dân sự nếu không có sự phối hợp của bên phải thi hành. Khi bên phải thi hành không tự nguyện thi hành, bên được thi hành có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền cưỡng chế thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự (Điều 67 Luật Trọng tài thương mại).
Thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài thuộc về cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh và cấp huyện, được xác định theo lãnh thổ. Cụ thể, bên được thi hành có thể nộp đơn yêu cầu thi hành án đến Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện hoặc Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh nơi bên phải thi hành có trụ sở chính, nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có tài sản liên quan đến nghĩa vụ thi hành (Điều 35, 36 Luật Thi hành án dân sự 2008 sửa đổi, bổ sung). Trường hợp bên phải thi hành không còn hoạt động hoặc tài sản nằm rải rác nhiều địa phương, có thể yêu cầu Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh nơi có tài sản hoặc nơi bên phải thi hành có trụ sở chính để tổ chức thi hành. Ngược lại, nếu giá trị tài sản và tính chất vụ việc đơn giản, Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện có thẩm quyền thụ lý.
Ví dụ: Công ty A (trụ sở tại Hà Nội) thắng kiện trọng tài đối với Công ty B (trụ sở tại Đồng Nai). Để yêu cầu thi hành phán quyết, Công ty A nộp đơn đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện nơi Công ty B đặt trụ sở hoặc nơi có tài sản của Công ty B tại Đồng Nai. Nếu tài sản của Công ty B phân tán ở nhiều huyện, Công ty A có thể yêu cầu Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai để thụ lý và phân công cho các đơn vị trực thuộc.
Thực tiễn cho thấy, việc xác định đúng cơ quan thi hành án có thẩm quyền có ý nghĩa quan trọng, giúp rút ngắn thời gian tố tụng thi hành án và tránh tình trạng từ chối thụ lý do không đúng thẩm quyền. Người được thi hành cần kiểm tra kỹ địa chỉ trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải thi hành trước khi nộp đơn yêu cầu thi hành án để bảo đảm quyền lợi của mình.
Thủ tục yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài thương mại được khởi động khi bên được thi hành phán quyết nộp đơn đến cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. Cụ thể, theo khoản 1 Điều 8 Luật Trọng tài thương mại 2010, thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài thuộc về cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi người phải thi hành phán quyết có trụ sở chính, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản phục vụ cho việc thi hành án.
Hồ sơ yêu cầu thi hành được quy định chi tiết tại Điều 66 Luật Trọng tài thương mại 2010, bao gồm: đơn yêu cầu thi hành án; bản chính hoặc bản sao hợp pháp phán quyết trọng tài; bản chính hoặc bản sao hợp pháp thỏa thuận trọng tài (nếu Bộ luật Tố tụng dân sự yêu cầu) và các tài liệu chứng minh việc gửi phán quyết cho bên phải thi hành theo quy định của Hội đồng trọng tài. Thiếu một trong các giấy tờ này, cơ quan thi hành án có quyền từ chối thụ lý.
Về thời hiệu, Điều 67 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định thời hiệu yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài là 03 năm, kể từ ngày phán quyết trọng tài có hiệu lực. Đây là thời hiệu tương đối ngắn so với thời hiệu khởi kiện thông thường, đòi hỏi bên được thi hành phải hành động khẩn trương sau khi có phán quyết.
Thực tiễn cho thấy, nhiều doanh nghiệp sau khi thắng kiện tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) đã chậm nộp đơn yêu cầu thi hành, dẫn đến hết thời hiệu và khó khăn trong việc thu hồi tài sản. Ngược lại, có vụ việc bên phải thi hành chủ động tẩu tán tài sản ngay sau khi phán quyết được ban hành, khiến cho việc thi hành trở nên bất khả thi dù bên được thi hành đã nộp đơn kịp thời.
Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan thi hành án dân sự vài dựa vào các nguyên tắc quy định tại Điều 2 và Điều 7 Luật Thi hành án dân sự 2008 để ra quyết định thi hành án hoặc từ chối với lý do phán quyết bị hủy, hết thời hiệu hoặc không thuộc thẩm quyền. Khi quyết định thi hành được ban hành, các biện pháp cưỡng chế như kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, khấu trừ thu nhập được áp dụng theo quy định pháp luật thi hành án.
Thời hiệu thi hành phán quyết trọng tài thương mại là giới hạn thời gian mà bên được thi hành phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế thi hành. Theo Điều 67 Luật Trọng tài thương mại 2010, thời hiệu này là 05 năm, kể từ ngày phán quyết có hiệu lực pháp luật. Hết thời hạn này, quyền yêu cầu thi hành án chấm dứt, phán quyết không còn được bảo đảm bằng biện pháp cưỡng chế nhà nước.
Về thời điểm bắt đầu: căn cứ Điều 66 Luật Trọng tài thương mại 2010, phán quyết trọng tài có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Do vậy, thời hiệu 05 năm được tính từ ngày Hội đồng trọng tài ra phán quyết. Đây là điểm khác biệt so với bản án của Tòa án (có hiệu lực sau thời hạn kháng cáo, kháng nghị).
Ví dụ thực tiễn: Công ty A và Công ty B tranh chấp hợp đồng thương mại. Ngày 01/6/2020, Hội đồng trọng tài ban hành phán quyết buộc Công ty B thanh toán 10 tỷ đồng. Sau phán quyết, Công ty B không tự nguyện thi hành. Nếu đến ngày 01/6/2025 Công ty A không nộp đơn yêu cầu thi hành án dân sự theo Điều 8 Luật Trọng tài thương mại 2010, thì quyền yêu cầu cưỡng chế bị mất. Lúc này, phán quyết chỉ còn là căn cứ pháp lý để thương lượng giữa các bên, không còn hiệu lực thi hành bằng biện pháp nhà nước.
Về mặt pháp luật thi hành án: Điều 2 Luật Thi hành án dân sự 2008 xác định phán quyết trọng tài thương mại là đối tượng được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự. Điều 7 Luật này quy định nguyên tắc thực hiện, trong đó có nguyên tắc tuân thủ thời hiệu thi hành án. Bên được thi hành cần lưu ý: việc nộp đơn yêu cầu thi hành án đúng hạn làm gián đoạn thời hiệu; nếu cố tình chậm trễ vượt quá 05 năm, quyền lợi hợp pháp từ phán quyết trọng tài không còn được bảo vệ bởi quyền lực nhà nước.
Sau khi phán quyết trọng tài thương mại có hiệu lực chung thẩm, bên được thi hành có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành. Theo Điều 8 Luật Trọng tài thương mại 2010, việc thi hành phán quyết trọng tài được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự. Luật Thi hành án dân sự 2008 (Điều 2, 7) quy định các biện pháp bảo đảm bao gồm: phong tỏa tài khoản tại tổ chức tín dụng, kê biên tài sản, khấu trừ thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản, thu hồi giấy tờ có giá, và cấm chuyển dịch tài sản — nhằm ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thi hành án của bên phải thi hành.
Trong giai đoạn tố tụng trọng tài, Điều 66 Luật Trọng tài thương mại 2010 cho phép các bên yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời như kê biên tài sản đang tranh chấp, phong tỏa tài khoản, hoặc cấm thực hiện hành vi nhất định. Đây là công cụ phòng vệ quan trọng, bảo đảm khả năng thi hành phán quyết về sau. Thực tiễn cho thấy, việc chậm trễ yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm thường dẫn đến rủi ro bên phải thi hành chuyển nhượng tài sản hoặc rút tiền khỏi tài khoản trước khi cơ quan thi hành án kịp can thiệp.
Sau khi có phán quyết, theo Điều 67 Luật Trọng tài thương mại 2010, bên được thi hành nộp đơn kèm bản chính phán quyết đến Cơ quan Thi hành án dân sự cấp tỉnh hoặc huyện nơi bên phải thi hành có trụ sở, cư trú hoặc tài sản. Cơ quan thi hành án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm ngay khi nhận được đơn nếu có căn cứ cho thấy bên phải thi hành có hành vi tẩu tán tài sản. Áp dụng kịp thời, đúng thẩm quyền các biện pháp này là yếu tố quyết định hiệu quả thi hành phán quyết trọng tài thương mại.
Việc từ chối công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài được thực hiện theo căn cứ chặt chẽ tại Phần VII Luật Trọng tài thương mại 2010. Theo đó, Tòa án chỉ từ chối khi thuộc một trong các trường hợp tại Điều 91 (căn cứ theo Công ước New York 1958). Cụ thể gồm hai nhóm: (i) do bên có nghĩa vụ chứng minh: năng lực các bên không đầy đủ, thỏa thuận trọng tài vô hiệu, không được thông báo hợp lệ về việc chỉ định trọng tài hoặc không thể trình bày ý kiến, phán quyết vượt quá phạm vi yêu cầu trọng tài, thành phần Hội đồng trọng tài hoặc thủ tục tố tụng không phù hợp thỏa thuận hoặc pháp luật áp dụng, phán quyết chưa có hiệu lực bắt buộc hoặc đã bị hủy bỏ; (ii) do Tòa án chủ động xem xét: đối tượng tranh chấp không được giải quyết bằng trọng tài theo pháp luật Việt Nam, việc công nhận và thi hành trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam (trật tự công cộng).
Về thẩm quyền, Điều 66-67 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định phán quyết trọng tài nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam theo thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Điều 8 của Luật này xác định thẩm quyền thi hành án thuộc cơ quan thi hành án dân sự sau khi có quyết định công nhận của Tòa án. Luật Thi hành án dân sự 2008 (Điều 2, 7) quy định phạm vi thi hành án bao gồm các quyết định về tài sản trong phán quyết được Tòa án công nhận, và nguyên tắc tuân thủ điều ước quốc tế.
Ví dụ thực tiễn: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội từng từ chối công nhận phán quyết của Hội đồng trọng tài tại Singapore vì một bên chứng minh được mình không được thông báo hợp lệ về thủ tục tố tụng trọng tài, thuộc căn cứ tại khoản 1 Điều 91. Trường hợp khác, Tòa án từ chối phán quyết CIETAC (Trung Quốc) vì việc thi hành sẽ trái nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam về quyền sở hữu tài sản. Bên yêu cầu công nhận cần lưu ý xác định chính xác bên có nghĩa vụ và thời hiệu nộp đơn (03 năm từ ngày phán quyết).
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.