Điều 93. Xác định cha, mẹ trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 1. Trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật này. 2. Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra. 3. Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con được sinh ra. 4. Việc xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được áp dụng theo quy định tại Điều 94 của Luật này.
Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là hợp pháp tại Việt Nam. Pháp luật công nhận quyền sinh con bằng hỗ trợ sinh sản của vợ chồng vô sinh và phụ nữ sống độc thân, đồng thời quy định rõ trường hợp nào được thực hiện, cha, mẹ của đứa trẻ được xác định như thế nào và hành vi nào bị nghiêm cấm. Căn cứ pháp lý chủ yếu gồm Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Nghị định 10/2015/NĐ-CP và Luật Khám bệnh, chữa bệnh. Bài viết dưới đây tổng hợp quy định hiện hành và trả lời trực tiếp những vướng mắc thường gặp.
Theo khoản 21 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm:
Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 phân biệt ba khái niệm tại Điều 3: sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (khoản 21), mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (khoản 22) và mang thai hộ vì mục đích thương mại (khoản 23). Điểm g khoản 2 Điều 5 nghiêm cấm sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi và sinh sản vô tính.
Điều kiện thực hiện được quy định tại Nghị định 10/2015/NĐ-CP. Theo đó, việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản chỉ được thực hiện khi thuộc trường hợp được phép và có chỉ định y tế, gồm:
Người thực hiện phải đáp ứng các điều kiện về độ tuổi, sức khỏe và phải có xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền, tuân thủ quy trình chuyên môn do Bộ Y tế hướng dẫn. Trong mọi trường hợp, việc lựa chọn giới tính thai nhi đều bị nghiêm cấm. Riêng trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo có điều kiện riêng, chặt chẽ hơn tại Điều 95 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (trình bày chi tiết tại mục 5).
Pháp luật ghi nhận quyền sinh con của vợ chồng vô sinh và phụ nữ sống độc thân thông qua kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong khuôn khổ các quy định nêu trên. Con sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hợp pháp có đầy đủ quyền như con sinh ra theo cách thông thường; quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ và con không bị phân biệt.
Tuy nhiên, quyền này chỉ được thực hiện trong giới hạn pháp luật cho phép. Pháp luật nghiêm cấm: sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại (hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác — khoản 23 Điều 3, điểm g khoản 2 Điều 5), mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi và sinh sản vô tính. Người vi phạm có thể bị xử lý trách nhiệm dân sự, hành chính hoặc hình sự tùy theo tính chất, mức độ vi phạm theo Điều 100 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Đây là vấn đề được nhiều người quan tâm nhất và được quy định cụ thể tại Điều 93 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Luật phân chia thành ba trường hợp:
Thứ nhất, người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo Điều 88 của Luật: con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Do đó, người chồng là cha của đứa trẻ kể cả khi phôi được tạo ra từ tinh trùng của người hiến tặng.
Thứ hai, người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra. Việc khai sinh được thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch; phần thông tin về cha được để trống.
Thứ ba, quan hệ với người hiến tinh trùng, noãn, phôi. Khoản 3 Điều 93 quy định rõ: việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con được sinh ra. Điều này vừa bảo vệ quyền riêng tư của người hiến tặng, vừa bảo đảm sự ổn định về mặt pháp lý cho đứa trẻ, tránh tranh chấp quyền cha, mẹ đối với một đứa trẻ.
Trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo Điều 94 của Luật, trình bày tại mục 5.
Theo khoản 22 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản: noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng được thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung người phụ nữ tự nguyện mang thai. Như vậy, đứa trẻ mang gen của chính vợ chồng nhờ mang thai hộ.
Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được quy định tại Điều 95 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, áp dụng cho cả hai bên:
Hệ quả pháp lý quan trọng nhất được quy định tại Điều 94: con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra. Người mang thai hộ không phải là mẹ của đứa trẻ.
Thỏa thuận về mang thai hộ phải được lập thành văn bản có công chứng theo Điều 96, gồm thông tin các bên, cam kết quyền và nghĩa vụ, giải quyết hậu quả tai biến sản khoa và trách nhiệm dân sự khi vi phạm. Người mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản đến khi giao đứa trẻ; người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản từ khi nhận con đến khi con đủ 06 tháng tuổi. Việc sinh con do mang thai hộ không tính vào số con theo chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.
Cần lưu ý: mang thai hộ vì mục đích thương mại là hành vi bị nghiêm cấm tuyệt đối theo điểm g khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và không được pháp luật thừa nhận về mặt pháp lý.
Hồ sơ và trình tự thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được quy định chi tiết tại Nghị định 10/2015/NĐ-CP. Về cơ bản, hồ sơ gồm đơn đề nghị thực hiện kỹ thuật, kết quả xác nhận về tình trạng vô sinh, kết quả xét nghiệm y tế và các tài liệu liên quan theo hướng dẫn của cơ sở y tế và Bộ Y tế. Người có nhu cầu nên liên hệ trực tiếp cơ sở y tế được phép thực hiện kỹ thuật để được hướng dẫn bộ hồ sơ cụ thể cho từng trường hợp.
Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản chỉ được thực hiện tại cơ sở y tế được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, đáp ứng điều kiện về chuyên môn, nhân sự, trang thiết bị theo Nghị định 10/2015/NĐ-CP; người thực hiện kỹ thuật phải hành nghề có chứng chỉ theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh. Với trường hợp mang thai hộ, nếu thỏa thuận được lập cùng với thỏa thuận với cơ sở y tế thì phải có xác nhận của người có thẩm quyền của cơ sở y tế đó theo Điều 96 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Mỗi trường hợp có hoàn cảnh riêng và có thể phát sinh vấn đề pháp lý như khai sinh, xác nhận cha, mẹ, con, công chứng thỏa thuận hay tranh chấp. Hãy liên hệ luật sư để được tư vấn trên hồ sơ cụ thể qua hotline 0987 892 333 hoặc email info@luatminhbach.vn.
Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.