Phạm tội chưa đạt: dấu hiệu và trách nhiệm hình sự | Công ty Luật Minh Bạch

Phạm tội chưa đạt: dấu hiệu và trách nhiệm hình sự

Hình sự · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Phạm tội chưa đạt là gì
  2. Phân biệt phạm tội chưa đạt và chuẩn bị phạm tội
  3. Điều kiện phạm tội chưa đạt
  4. Trách nhiệm hình sự khi phạm tội chưa đạt
  5. Trường hợp tự nguyện không phạm tội đến cùng
  6. Ví dụ thực tế và cách xử lý

1. Phạm tội chưa đạt là gì

Điều 15. Xác định sự thật của vụ án Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Theo quy định tại Điều 15 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), phạm tội chưa đạt là một giai đoạn thực hiện tội phạm cố ý. Đây là trường hợp người phạm tội đã bắt đầu thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm, hoặc đã thực hiện xong hành vi đó nhưng hậu quả nguy hiểm cho xã hội chưa xảy ra hoặc chưa thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm hoàn thành.

Về mặt khoa học pháp lý hình sự, phạm tội chưa đạt được chia thành hai dạng:

- Chưa đạt chưa hoàn thành: Người phạm tội vì nguyên nhân khách quan chưa thực hiện hết các hành vi cần thiết mà họ cho rằng có thể gây ra hậu quả. Ví dụ: Kẻ trộm vừa cạy khóa cửa thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ.

- Chưa đạt đã hoàn thành: Người phạm tội đã thực hiện đầy đủ các hành vi mà họ tin rằng sẽ làm hậu quả phát sinh, nhưng vì lý do khách quan hậu quả thực tế không xảy ra. Ví dụ: Nghi phạm bắn nạn nhân trúng ngực nhưng nạn nhân được cấp cứu kịp thời nên bảo toàn tính mạng.

Việc xác định tính chất chưa đạt là căn cứ phân hóa trách nhiệm hình sự, bảo đảm xử lý đúng người, đúng tính chất nguy hiểm của hành vi.

2. Phân biệt phạm tội chưa đạt và chuẩn bị phạm tội

Giai đoạn thực hiện tội phạm bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành. Việc phân định ranh giới giữa chuẩn bị phạm tội (Điều 14) và phạm tội chưa đạt (Điều 15 Bộ luật Hình sự 2015) giữ vai trò then chốt trong định tội danh.

Về hành vi khách quan: Chuẩn bị phạm tội chỉ giới hạn ở việc tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện, tạo ra các điều kiện vật chất hoặc tinh thần khác nhằm thực hiện tội phạm (như mua thuốc độc, vẽ sơ đồ hiện trường). Người phạm tội chưa trực tiếp thực hiện hành vi xâm phạm đến khách thể được luật bảo vệ. Ngược lại, phạm tội chưa đạt là giai đoạn người phạm tội đã bắt đầu tác động trực tiếp lên khách thể (như đã đưa thuốc độc vào cốc nước của nạn nhân).

Về phạm vi xử lý hình sự: Theo Điều 14 Bộ luật Hình sự 2015, người chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với một số tội danh rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng được liệt kê cụ thể (khoảng 20 tội danh). Trong khi đó, phạm tội chưa đạt bị truy cứu trách nhiệm hình sự rộng hơn, áp dụng cho mọi loại tội phạm có cấu thành vật chất khi thỏa mãn điều kiện luật định.

Về tính chất nguy hại: Phạm tội chưa đạt mang mức độ nguy hiểm xã hội cao hơn do hành vi phạm tội đã chạm vào ranh giới cấu thành khách quan của tội phạm.

3. Điều kiện phạm tội chưa đạt

Để định danh một hành vi thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo Điều 15 Bộ luật Hình sự 2015, cơ quan tiến hành tố tụng cần chứng minh đầy đủ ba dấu hiệu pháp lý bắt buộc sau:

Thứ nhất, người phạm tội đã bắt đầu thực hiện tội phạm. Dấu hiệu này đòi hỏi đối tượng đã tiến hành các hành vi khách quan thuộc cấu thành cơ bản của tội phạm hoặc hành vi trực tiếp dẫn tới hành vi đó. Người phạm tội đã vượt qua giai đoạn chuẩn bị công cụ, phương tiện và trực tiếp triển khai ý định phạm tội trên thực tế.

Thứ hai, người phạm tội không thực hiện được tội phạm đến cùng. Dấu hiệu này phản ánh sự thiếu hụt về mặt hậu quả pháp lý so với mong muốn chủ quan của đối tượng. Có thể hành vi khách quan bị đứt đoạn, chưa thực hiện hết, hoặc hành vi đã hoàn thành trọn vẹn nhưng hậu quả luật định (ví dụ: cái chết của nạn nhân, việc chiếm đoạt được tài sản) đã không phát sinh.

Thứ ba, việc không thực hiện được tội phạm đến cùng xuất phát từ nguyên nhân ngoài ý muốn của người thực hiện. Đây là dấu hiệu then chốt để loại trừ trường hợp tự ý dừng lại. Các nguyên nhân này có thể bao gồm: sự ngăn chặn của lực lượng công an, sự kháng cự của nạn nhân, sự cố khách quan của công cụ phạm tội (súng kẹt đạn), hoặc do nhầm lẫn về đối tượng tác động.

4. Trách nhiệm hình sự khi phạm tội chưa đạt

Khoản 2 Điều 15 Bộ luật Hình sự 2015 xác lập nguyên tắc: Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt. Việc quyết định hình phạt được quy định chi tiết tại Điều 57 Bộ luật Hình sự 2015:

Nguyên tắc chung: Tòa án căn cứ vào các điều luật về tội phạm tương ứng, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để lượng hình.

Khung hình phạt cụ thể quy định tại khoản 3 Điều 57:

- Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt cao nhất áp dụng là không quá 20 năm tù.

- Nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư (3/4) mức phạt tù mà điều luật quy định.

- Các hình phạt khác (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ) áp dụng trong phạm vi khung hình phạt của điều luật tương ứng.

Về mặt thủ tục tố tụng, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát phải nêu rõ tình tiết phạm tội chưa đạt trong bản kết luận điều tra và cáo trạng. Đây là căn cứ bắt buộc để Hội đồng xét xử quyết định mức án không vượt quá giới hạn luật định tại Điều 57.

5. Trường hợp tự nguyện không phạm tội đến cùng

Cần phân biệt rõ phạm tội chưa đạt với trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội quy định tại Điều 16 Bộ luật Hình sự 2015. Đây là trường hợp một người tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.

Điều kiện để được công nhận tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội:

- Về thời điểm: Phải diễn ra trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành (khi người phạm tội chưa làm hết các hành vi cần thiết để gây ra hậu quả). Nếu đã thực hiện hết hành vi mà hậu quả chưa xảy ra thì việc ngăn chặn hậu quả chỉ được xem là tình tiết giảm nhẹ chứ không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt.

- Về nguyên nhân: Phải xuất phát từ sự tự nguyện thực sự của người phạm tội, xuất phát từ động cơ đạo đức, sự hối hận hoặc lo sợ trách nhiệm, chứ không phải do có trở ngại khách quan ép buộc phải dừng lại.

Hậu quả pháp lý: Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm. Tuy nhiên, nếu hành vi thực tế đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành một tội phạm độc lập khác thì người đó vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội danh độc lập đó.

6. Ví dụ thực tế và cách xử lý

Ví dụ minh họa: A nảy sinh ý định giết B để trả thù. A chuẩn bị súng quân dụng, theo dõi đường đi của B. Khi B xuất hiện, A rút súng nhắm thẳng vào ngực B bắn hai phát. Một phát trúng vai B làm B bị thương 25%, phát thứ hai trúng xe máy của B. Quần chúng nhân dân phát hiện, lao vào tước súng và khống chế A. B được đưa đi cấp cứu kịp thời nên không chết.

Cách xử lý theo quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự:

Về định tội danh: A có hành vi dùng vũ khí nguy hiểm tấn công vào vùng trọng yếu của B với lỗi cố ý tước đoạt tính mạng. Việc B không chết nằm ngoài ý muốn của A (do trúng vùng không nguy hiểm đến tính mạng và được cứu chữa kịp thời). Hành vi của A cấu thành Tội giết người theo Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015, thuộc giai đoạn phạm tội chưa đạt (quy định tại Điều 15).

Về trách nhiệm hình sự: Khung hình phạt áp dụng cho Tội giết người có thể là từ 12 đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình (theo khoản 1 Điều 123). Tuy nhiên, do áp dụng chế định phạm tội chưa đạt theo khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự 2015, Tòa án không được tuyên mức án tử hình hoặc tù chung thân đối với A, mức hình phạt cao nhất áp dụng không được quá 20 năm tù.

Về tố tụng: Cơ quan điều tra khởi tố A về Tội giết người (chưa đạt). Bản cáo trạng và bản án phải viện dẫn đồng thời Điều 123, Điều 15 và Điều 57 Bộ luật Hình sự để xử lý theo đúng trình tự pháp luật tố tụng hiện hành.

Lưu ý khi áp dụng

Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Hình sự 2015 (100/2015/QH13, sửa đổi, bổ sung 2017) - Điều 15
  • Bộ luật Hình sự 2015 - Điều 14 (chuẩn bị phạm tội)
  • Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (101/2015/QH13) - thủ tục xử lý vụ án phạm tội chưa đạt
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp