Điều 200. Thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ 1.345 Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Tòa án, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 64 Điều 1 của Luật số 131/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026. Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 65 Điều 1 của Luật số 131/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026. 2. Việc áp dụng biện pháp dân sự, hình sự thuộc thẩm quyền của Tòa án. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật. 3.346 Việc áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính. Trong trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. 4. Việc áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ thuộc thẩm quyền của cơ quan hải quan.
Căn cứ pháp lý về kiểm soát hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tại cửa khẩu, biên giới hiện đặt trên ba trụ cột chính. Thứ nhất, Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2022. Điều 200 quy định biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ. Điều 201 quy định cụ thể biện pháp kiểm soát hàng hóa tại biên giới. Ý nghĩa pháp lý: cơ quan nhà nước có thẩm quyền được áp dụng cơ chế kiểm tra, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với lô hàng có dấu hiệu xâm phạm quyền SHTT; chủ thể quyền có cơ sở pháp lý để yêu cầu can thiệp nhằm ngăn chặn hàng giả, hàng xâm phạm ngay từ khâu thông quan.
Thứ hai, Luật Hải quan 2014 tạo nền tảng về thẩm quyền, trình tự kiểm tra, giám sát. Điều 28 quy định kiểm tra hải quan. Điều 29 quy định giám sát hải quan. Hai điều này là cơ sở để cơ quan hải quan theo dõi, kiểm soát hàng hóa, phương tiện vận tải trong địa bàn hoạt động hải quan, qua đó phát hiện dấu hiệu nghi vấn liên quan đến nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp hoặc quyền SHTT khác. Nói cách khác, Luật SHTT xác lập biện pháp chuyên biệt; Luật Hải quan cung cấp “công cụ vận hành” để biện pháp đó được thực thi trên thực tế.
Thứ ba, Nghị định 99/2013/NĐ-CP là căn cứ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Khi hành vi xâm phạm được xác định qua hoạt động kiểm soát tại biên giới, nghị định này là cơ sở áp dụng chế tài đối với tổ chức, cá nhân vi phạm. Chuỗi pháp lý vì vậy tương đối đầy đủ: phát hiện dấu hiệu nghi vấn, kiểm tra và giám sát hải quan, áp dụng biện pháp kiểm soát tại biên giới, rồi xử lý vi phạm hành chính nếu đủ căn cứ.
Ví dụ thực tiễn: doanh nghiệp đã bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam phát hiện lô hàng nhập khẩu gắn dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu của mình. Trong trường hợp đó, doanh nghiệp có thể dựa vào Điều 200, Điều 201 Luật SHTT để đề nghị áp dụng biện pháp kiểm soát; cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra, giám sát theo Điều 28, Điều 29 Luật Hải quan; nếu xác định có hành vi xâm phạm, việc xử phạt hành chính được đặt trên nền tảng Nghị định 99/2013/NĐ-CP.
Đối tượng hàng hóa bị kiểm soát là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh qua cửa khẩu, biên giới có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc cần được kiểm tra để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ theo yêu cầu của chủ thể quyền. Căn cứ Điều 200 và Điều 201 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2022, biện pháp kiểm soát hàng hóa tại biên giới được áp dụng nhằm phát hiện, ngăn chặn hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động thương mại qua biên giới.
Nhóm hàng hóa trọng tâm gồm hàng giả mạo nhãn hiệu, hàng giả mạo chỉ dẫn địa lý, hàng sao chép lậu, hàng hóa mang dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với đối tượng sở hữu trí tuệ đang được bảo hộ. Ví dụ: lô giày nhập khẩu gắn dấu hiệu trùng nhãn hiệu nổi tiếng; mỹ phẩm mang bao bì, nhãn hiệu gây nhầm lẫn với sản phẩm chính hãng; linh kiện điện tử sử dụng trái phép nhãn hiệu được bảo hộ; đĩa, thiết bị lưu trữ chứa bản sao tác phẩm không được phép.
Theo Điều 28 và Điều 29 Luật Hải quan 2014, hàng hóa qua cửa khẩu thuộc diện kiểm tra, giám sát hải quan. Vì vậy, khi có căn cứ nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, cơ quan hải quan có thể kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hóa, đối chiếu nhãn hiệu, bao bì, chứng từ, nguồn gốc, tuyến vận chuyển, chủ hàng. Việc kiểm soát không chỉ áp dụng với hàng nhập khẩu để tiêu thụ nội địa, mà còn có ý nghĩa với hàng xuất khẩu, quá cảnh nếu có dấu hiệu lợi dụng lãnh thổ Việt Nam làm điểm trung chuyển hàng xâm phạm.
Trường hợp xác định có vi phạm, hàng hóa, tổ chức, cá nhân liên quan có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 99/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Thực tiễn cho thấy nhóm hàng dễ bị kiểm soát gồm thời trang, dược mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, phụ tùng, điện tử, hàng tiêu dùng nhanh, do giá trị thương mại cao, khả năng làm giả lớn, nguy cơ gây thiệt hại trực tiếp cho chủ thể quyền và người tiêu dùng.
Thủ tục tạm dừng thông quan hàng hóa là biện pháp khẩn cấp nhằm ngăn hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đi qua cửa khẩu, biên giới trước khi hoàn tất thông quan. Căn cứ Điều 200, Điều 201 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2022, cơ quan hải quan được áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hóa tại biên giới theo yêu cầu của chủ thể quyền hoặc khi có căn cứ kiểm tra, giám sát theo Luật Hải quan 2014.
Về trình tự, chủ thể quyền trước hết phải gửi yêu cầu tạm dừng thông quan đến cơ quan hải quan, kèm tài liệu chứng minh quyền sở hữu trí tuệ, thông tin nhận diện lô hàng nghi vấn, dấu hiệu xâm phạm, căn cứ phát sinh nghi ngờ. Đây là điểm then chốt: yêu cầu càng cụ thể, khả năng hải quan kịp thời áp dụng biện pháp càng cao. Trên cơ sở Điều 28, Điều 29 Luật Hải quan 2014, cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra, giám sát hồ sơ, hàng hóa, phương tiện vận tải; khi thấy có căn cứ thì quyết định tạm dừng thông quan để xác minh tình trạng pháp lý của lô hàng.
Bản chất của biện pháp này không phải kết luận ngay có hành vi xâm phạm, mà tạo “khoảng dừng” cần thiết để đối chiếu nhãn hiệu, kiểu dáng, bao bì, nguồn gốc, giấy phép sử dụng quyền hoặc các chứng cứ liên quan. Ví dụ thực tiễn: doanh nghiệp là chủ sở hữu nhãn hiệu đã đăng ký phát hiện lô hàng nhập khẩu mang dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu của mình. Nếu cung cấp kịp thời văn bằng bảo hộ, hình ảnh đối chứng, thông tin container hoặc tờ khai, hải quan có cơ sở mạnh hơn để dừng thông quan, tránh việc hàng hóa nhanh chóng đi vào lưu thông nội địa.
Sau khi tạm dừng, nếu kết quả xác minh cho thấy có yếu tố xâm phạm, vụ việc có thể chuyển sang xử lý vi phạm hành chính theo Nghị định 99/2013/NĐ-CP. Ngược lại, nếu không đủ căn cứ, việc thông quan được tiếp tục. Vì vậy, trong thực tiễn, hiệu quả của thủ tục này phụ thuộc chủ yếu vào tốc độ phản ứng của chủ thể quyền, chất lượng chứng cứ, phối hợp chặt chẽ với cơ quan hải quan tại đúng thời điểm kiểm tra, giám sát.
Biện pháp kiểm tra, giám sát của Hải quan là cơ chế trọng tâm nhằm phát hiện, ngăn chặn hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ngay tại cửa khẩu, biên giới. Theo Điều 200, Điều 201 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2022, cơ quan hải quan thuộc nhóm cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ. Cơ chế này giúp xử lý sớm rủi ro trước khi hàng hóa được thông quan, lưu thông trên thị trường.
Theo Điều 28, Điều 29 Luật Hải quan 2014, hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu chịu sự kiểm tra hải quan, giám sát hải quan. Nội dung kiểm tra thường gồm kiểm tra hồ sơ hải quan, đối chiếu thông tin khai báo, kiểm tra thực tế hàng hóa khi có dấu hiệu rủi ro. Giám sát hải quan được thực hiện trong quá trình hàng hóa chịu sự quản lý hải quan, nhằm bảo đảm hàng hóa không bị tráo đổi, tẩu tán, đưa ra khỏi khu vực giám sát trái quy định.
Trong thực tiễn, biện pháp này thường phát huy hiệu quả với hàng tiêu dùng dễ bị làm giả như quần áo, giày dép, mỹ phẩm, phụ tùng, linh kiện điện tử mang nhãn hiệu nổi tiếng. Ví dụ, lô hàng nhập khẩu khai báo là “giày thể thao không nhãn hiệu”, nhưng khi kiểm tra thực tế phát hiện gắn dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu đang được bảo hộ. Khi đó, hải quan có cơ sở áp dụng biện pháp nghiệp vụ, tạm dừng xử lý thông quan theo cơ chế kiểm soát tại biên giới, đồng thời phối hợp với chủ thể quyền để xác minh dấu hiệu xâm phạm.
Trường hợp xác định có hành vi vi phạm, hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có thể bị xử lý theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ tại Nghị định 99/2013/NĐ-CP. Ý nghĩa của biện pháp kiểm tra, giám sát không chỉ ở việc phát hiện vi phạm, mà còn ở tác dụng phòng ngừa, giảm thiểu thiệt hại cho chủ thể quyền, người tiêu dùng, môi trường kinh doanh hợp pháp.
Xử lý hàng hóa vi phạm quyền sở hữu trí tuệ tại cửa khẩu, biên giới phải đặt trong cơ chế phối hợp giữa pháp luật SHTT, pháp luật hải quan, pháp luật xử phạt hành chính. Theo Điều 200, Điều 201 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2022, kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến SHTT là một biện pháp bảo vệ quyền. Khi có căn cứ cho thấy lô hàng có dấu hiệu xâm phạm, cơ quan hải quan áp dụng hoạt động kiểm tra, giám sát theo Điều 28, Điều 29 Luật Hải quan 2014 để phát hiện, ngăn chặn, làm rõ tình trạng pháp lý của hàng hóa.
Về hướng xử lý, trọng tâm là chấm dứt khả năng lưu thông của hàng hóa xâm phạm. Tùy tính chất, mức độ vi phạm, hàng hóa có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 99/2013/NĐ-CP, kèm biện pháp khắc phục hậu quả như tịch thu, tiêu hủy, buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì, phương tiện kinh doanh. Trường hợp dấu hiệu vi phạm chưa đủ rõ, việc kiểm tra, đối chiếu nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, chứng cứ quyền của chủ thể quyền là khâu quyết định; nếu xác định không có xâm phạm, hàng hóa được tiếp tục làm thủ tục hải quan.
Điểm cần lưu ý: xử lý tại biên giới không chỉ nhằm “giữ hàng” mà nhằm cân bằng hai lợi ích: bảo vệ quyền SHTT; bảo đảm lưu thông thương mại hợp pháp. Vì vậy, cơ quan hải quan không thay thế toàn bộ cơ chế giải quyết tranh chấp, nhưng có vai trò chặn rủi ro ngay từ đầu chuỗi nhập khẩu, xuất khẩu. Đây là ý nghĩa trực tiếp của biện pháp kiểm soát tại biên giới theo Điều 200, Điều 201 Luật SHTT.
Ví dụ thực tiễn: doanh nghiệp A là chủ sở hữu nhãn hiệu đã được bảo hộ, phát hiện lô hàng nhập khẩu gắn dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu của mình. Sau khi hải quan kiểm tra, giám sát theo Điều 28, Điều 29 Luật Hải quan 2014, nếu đủ căn cứ xác định xâm phạm, lô hàng có thể bị xử phạt theo Nghị định 99/2013/NĐ-CP, đồng thời áp dụng biện pháp tịch thu, tiêu hủy hoặc buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trước khi xem xét thông quan.
Trách nhiệm của chủ sở hữu quyền khi yêu cầu tạm dừng
Khi yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, chủ sở hữu quyền phải chịu trách nhiệm chủ động, đầy đủ, chính xác. Theo Điều 200 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2022, cơ quan hải quan là một trong các cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hóa tại biên giới. Tuy nhiên, việc kiểm soát này không thay thế nghĩa vụ chứng minh ban đầu của chủ thể quyền.
Chủ sở hữu quyền cần cung cấp căn cứ xác lập quyền, thông tin nhận diện hàng hóa chính hãng, dấu hiệu nghi ngờ xâm phạm, tuyến vận chuyển, doanh nghiệp nhập khẩu, xuất khẩu nếu có. Thông tin càng cụ thể, cơ quan hải quan càng có cơ sở kiểm tra, giám sát theo Điều 28, Điều 29 Luật Hải quan 2014. Ví dụ: doanh nghiệp sở hữu nhãn hiệu mỹ phẩm phải cung cấp mẫu nhãn thật, hình ảnh bao bì, mã lô, đặc điểm tem chống giả; không thể chỉ nêu chung rằng “có khả năng hàng giả xuất hiện tại cửa khẩu”.
Chủ sở hữu quyền cũng phải phối hợp kịp thời khi cơ quan hải quan yêu cầu làm rõ chuyên môn. Trường hợp cần xác định yếu tố xâm phạm, kết quả giám định, ý kiến chuyên môn có ý nghĩa quan trọng theo tinh thần Điều 201 Luật Sở hữu trí tuệ về giám định sở hữu trí tuệ. Nếu chủ thể quyền chậm phản hồi, thiếu tài liệu, yêu cầu tạm dừng dễ bị đánh giá không đủ cơ sở.
Ngoài ra, chủ sở hữu quyền phải chịu trách nhiệm về tính trung thực của yêu cầu. Yêu cầu sai, thiếu căn cứ có thể gây thiệt hại cho chủ hàng hợp pháp, làm đình trệ thông quan, ảnh hưởng hoạt động thương mại. Ngược lại, nếu phát hiện hàng hóa xâm phạm, người vi phạm có thể bị xử phạt theo Nghị định 99/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
Thực tiễn cho thấy yêu cầu hiệu quả thường không dừng ở “đơn đề nghị”, mà phải kèm bộ nhận diện hàng thật, hàng giả, dữ liệu nhập khẩu nghi vấn, đầu mối phản hồi nhanh. Đây là trách nhiệm pháp lý, đồng thời là điều kiện thực tế để biện pháp tạm dừng phát huy hiệu quả tại cửa khẩu, biên giới.
Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.