Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức (gọi chung là người giám hộ) được pháp luật chỉ định hoặc công nhận để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ và đại diện cho người chưa thành niên (dưới 18 tuổi), người mất năng lực hành vi dân sự khi không có năng lực tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Đối với con chưa thành niên, giám hộ phát sinh trong các trường hợp:
Bản chất pháp lý của giám hộ là quan hệ đại diện – bảo vệ, được pháp luật công nhận để lấp đần khoảng trống khi người chưa thành niên không có hoặc không thể có người đại diện theo pháp luật tự nhiên (cha mẹ).
Điều 46. Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung 1. Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng. 2. Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó. 3. Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Cần phân biệt: giám hộ khác đại diện theo pháp luật của cha mẹ. Cha mẹ là đại diện tự nhiên; người giám hộ là đại diện do pháp luật chỉ định, phát sinh khi quan hệ đại diện tự nhiên không còn khả thi.
Giám hộ cho người chưa thành niên là việc xác lập vai trò đại diện cho trẻ trong các giao dịch dân sự, nhằm bảo vệ quyền lợi về đời sống, giáo dục và phát triển của trẻ khi cha mẹ không thể thực hiện vai trò đó.
Các trường hợp cần giám hộ cho người chưa thành niên:
Điều 47. Người chưa thành niên được giám hộ
1. Người chưa thành niên được giám hộ khi cha và mẹ đều đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng thực hiện quyền, nghĩa vụ cha mẹ.
2. Người chưa thành niên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì có thể được giám hộ khi có nguyện vọng và được sự đồng ý của người giám hộ đương nhiên.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Ngoài ra, trẻ chưa thành niên có thể được giám hộ khi có nguyện vọng và được sự đồng ý của người giám hộ đương nhiên, dù cha mẹ vẫn còn sống nhưng không đủ điều kiện chăm sóc con.
Người giám hộ đương nhiên của con chưa thành niên là người có quyền, nghĩa vụ pháp lý tự nhiên đối với trẻ em khi chưa có quyết định tòa án.
Điều 46 Bộ luật Dân sự 2015: “Cha mẹ, người giám hộ, người nuôi dưỡng, người có quyền nuôi con, người có quyền thụ hưởng tài sản của người chưa thành niên, người có quyền quyết định về việc giáo dục, chăm sóc, bảo vệ, và quản lý tài sản của người chưa thành niên là người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên.”
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Quyền: quyết định giáo dục, y tế, tài chính; Nghĩa vụ: bảo đảm lợi ích, quản lý tài sản, đại diện pháp lý.
Thủ tục: khi có tranh chấp, người giám hộ đương nhiên phải nộp hồ sơ đăng ký giám hộ theo Nghị định 123/2015/NĐ‑CP; tòa án xác nhận nếu cần.
Quyền, nghĩa vụ của người giám hộ
Người giám hộ được pháp luật công nhận quyền quyết định các vấn đề cốt lõi liên quan đến cuộc sống và tài sản của người chưa thành niên, đồng thời phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo vệ và thúc đẩy quyền lợi hợp pháp của trẻ.
Người giám hộ có quyền quyết định các vấn đề liên quan đến việc nuôi dưỡng, giáo dục, bảo vệ sức khỏe, tài sản của người chưa thành niên, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Người giám hộ có nghĩa vụ bảo đảm quyền lợi, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, thực hiện các nghĩa vụ pháp lý thay mặt người chưa thành niên.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Giám hộ cho con chưa thành niên phải đăng ký tại UBND cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ hoặc người giám hộ. Trường hợp người giám hộ đương nhiên theo cha mẹ, ông bà thì không bắt buộc đăng ký, nhưng cần đăng ký khi thay đổi người giám hộ hoặc xảy ra tranh chấp về giám hộ.
Thủ tục đăng ký giám hộ gồm các bước:
Việc đăng ký giám hộ được thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch. UBND cấp xã nơi thường trú của người được giám hộ hoặc người giám hộ có thẩm quyền đăng ký giám hộ.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Lưu ý: Tranh chấp về giám hộ hoặc đề nghị thay đổi người giám hộ được giải quyết tại TAND cấp huyện theo quy trình tố tụng dân sự.
Giám hộ chấm dứt khi người được giám hộ đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; người được giám hộ có đủ điều kiện tự quản lý tài sản; người giám hộ không còn đủ điều kiện bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ; theo yêu cầu của người được giám hộ có đủ năng lực hành vi dân sự về một phần hoặc toàn bộ nội dung giám hộ.
"Điều 46. Chấm dứt giám hộ
1. Giám hộ chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
a) Người được giám hộ đã thành niên hoặc năng lực hành vi dân sự đã được khôi phục;
b) Người được giám hộ có đủ khả năng về tài chính để tự quản lý tài sản;
c) Người giám hộ không còn đủ điều kiện bảo đảm việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật này;
d) Theo yêu cầu của người được giám hộ có đủ năng lực hành vi dân sự về một phần hoặc toàn bộ nội dung giám hộ.
2. Khi giám hộ chấm dứt, người giám hộ, người được giám hộ phải thanh toán các nghĩa vụ tài sản trong phạm vi giám hộ, trừ trường hợp Điều 48 khoản 2 của Bộ luật này."
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Khi con chưa thành niên đủ 18 tuổi, quyền giám hộ đương nhiên của cha mẹ chấm dứt mà không cần thủ tục hành chính; cha mẹ tự quản lý tài sản chung, riêng của con theo thỏa thuận.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.