Tài sản chung vợ chồng là tài sản do hai vợ chồng cùng tạo ra, tài sản mà pháp luật quy định thuộc sở hữu chung hợp nhất, hoặc tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là sở hữu chung. Theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014:
Điều 59. Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên Khi được phân công tiến hành hoạt động tố tụng, Kiểm tra viên có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: 1. Nghiên cứu hồ sơ vụ việc, báo cáo kết quả với Kiểm sát viên. 2. Lập hồ sơ kiểm sát vụ việc dân sự theo phân công của Kiểm sát viên hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát. 3. Giúp Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Tài sản riêng của vợ chồng được quy định tại Điều 35 và Điều 36, bao gồm:
Khi ly hôn, chỉ tài sản chung mới là đối tượng chia. Tài sản riêng thuộc về người sở hữu, không chia. Việc phân định rõ hai loại tài sản này là bước đầu tiên và quan trọng nhất để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mỗi bên. Nếu không thể chứng minh tài sản là riêng, pháp luật mặc định coi đó là tài sản chung vợ chồng.
Việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tuân theo nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014:
Điều 59. Chia tài sản chung khi ly hôn
1. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, có tính đến các yếu tố quy định tại khoản 2 Điều này; nếu không tách được thì chia theo giá trị; bên nào nhận tài sản thì phải chịu phần giá trị tương ứng, nếu các bên không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Khi chia tài sản chung, Tòa án xem xét: a) Hoàn cảnh của gia đình và của mỗi bên; b) Công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo dựng, duy trì, phát triển tài sản chung; c) Việc thực hiện nghĩa vụ về hôn nhân và các nghĩa vụ khác của mỗi bên trong thời kỳ hôn nhân.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Lưu ý: Nguyên tắc chia đôi không áp dụng tuyệt đối. Tòa án có thể điều chỉnh tỷ lệ dựa trên công sức đóng góp thực tế và hoàn cảnh cụ thể của từng gia đình.
Nguyên tắc chung là chia đôi, nhưng Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 cho phép Tòa xem xét các yếu tố sau để chia tỷ lệ khác 50/50:
"Việc chia tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án căn cứ vào công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản chung; thu nhập, công việc của vợ chồng; để bảo vệ lợi ích chính đáng của vợ, chồng và con; việc thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng với gia đình, cộng đồng, xã hội; hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;..."
Nguồn: Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 — Luật Minh Bạch
Khi áp dụng, Tòa xét toàn diện các yếu tố. Đây là nguyên tắc công bằng, không phải "phạt" ai. Bên yếu thế (có lỗi nhẹ, công sức ít, hoàn cảnh khó) vẫn được bảo vệ mức sống tối thiểu.
Khi tài sản chung vợ chồng còn kèm theo nợ chung, việc chia tài sản phải đồng thời giải quyết nghĩa vụ trả nợ. Theo nguyên tắc, vợ chồng chịu trách nhiệm liên đới về các khoản nợ chung, bất kể tài sản được chia như thế nào.
Nguyên tắc xử lý:
Điều 60. Nghĩa vụ thanh toán nghĩa vụ về tài sản chung và nghĩa vụ tài sản riêng
1. Việc thanh toán nghĩa vụ về tài sản chung được thực hiện theo quy định tại các điều 37, 38 và 39 của Luật này; nếu tài sản chung đã chia thì mỗi bên tiếp tục thực hiện nghĩa vụ về tài sản chung đối với phần tài sản đã nhận, trường hợp tài sản chung chưa chia thì tiếp tục thực hiện nghĩa vụ chung.
2. Việc thanh toán nghĩa vụ về tài sản riêng do cá nhân tự thực hiện; trường hợp tài sản riêng đã chuyển thành tài sản chung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 và khoản 2 Điều 34 của Luật này thì nghĩa vụ về tài sản này được thanh toán theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Lưu ý thực tiễn: Trước khi ly hôn, hai bên nên thỏa thuận rõ ràng về việc ai nhận tài sản nào và chịu trách nhiệm trả khoản nợ nào, tránh phát sinh tranh chấp với chủ nợ sau này.
Khi chia tài sản chung vợ chồng theo nguyên tắc thỏa thuận hoặc Tòa án quyết định, pháp luật quy định rõ việc bảo vệ quyền lợi của vợ, chồng yếu thế. Đây là nguyên tắc nhằm đảm bảo công bằng thực chất, không chỉ hình thức.
Đối tượng được coi là yếu thế
Căn cứ pháp lý về bảo vệ
Khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định: "Trong trường hợp việc chia tài sản chung vi phạm nghiêm trọng quyền lợi của bên kia thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch chia tài sản chung là vô hiệu."
Ngoài ra, Tòa án khi quyết định chia tài sản phải xem xét hoàn cảnh gia đình, tình trạng tài sản, công sức đóng góp và khả năng tự tái tạo cuộc sống của mỗi bên. Bên yếu thế có thể được chia phần tài sản lớn hơn hoặc nhận tài sản có giá trị cao hơn để đảm bảo ổn định cuộc sống sau ly hôn.
Quyền khởi kiện
Trường hợp bên yếu thế cho rằng quyền lợi bị vi phạm nghiêm trọng trong việc chia tài sản, có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét lại. Thời hiệu khởi kiện là 03 năm kể từ ngày việc chia tài sản được thực hiện.
Thủ tục phân chia tài sản khi ly hôn được thực hiện theo hai hình thức: thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết.
1. Phân chia bằng thỏa thuận
2. Phân chia theo quyết định của Tòa án
"Việc giải quyết hậu quả của chế độ tài sản vợ chồng do Tòa án nhân dân thực hiện theo quy định của pháp luật."
Nguồn: Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 — Luật Minh Bạch
"Đối với tài sản chung có nợ, các bên có nghĩa vụ liên đới chịu trách nhiệm thanh toán; khi chia tài sản chung, Tòa án quyết định phần nghĩa vụ của mỗi bên."
Nguồn: Khoản 2 Điều 61 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 — Luật Minh Bạch
"Đơn khởi kiện vụ án ly hôn phải có các nội dung: tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện; tóm tắt hoàn cảnh sự việc làm căn cứ cho việc yêu cầu Tòa án giải quyết; các yêu cầu cụ thể của người khởi kiện..."
Nguồn: Khoản 1 Điều 362 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 — Luật Minh Bạch
3. Thi hành bản án, quyết định
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.