Khi tài sản gây thiệt hại, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu, sử dụng tài sản phải bồi thường, trừ trường hợp thiệt hại do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại (Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015). Bài viết phân loại trách nhiệm bồi thường theo từng loại tài sản: nguồn nguy hiểm cao độ, súc vật, cây cối, nhà cửa và công trình xây dựng.
Điều 601. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật. 2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. 3. Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây: a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại; b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 4. Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại. Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.
Bộ luật Dân sự 2015 (số 91/2015/QH13, hiệu lực từ ngày 01/01/2017, còn hiệu lực) quy định tại Điều 584: người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Đặc biệt, khoản 3 quy định: trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải bồi thường, trừ trường hợp thiệt hại do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại.
Nguyên tắc bồi thường (Điều 585): thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời; các bên thỏa thuận về mức, hình thức, phương thức bồi thường. Khi bên bị thiệt hại có lỗi thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm (Điều 589) gồm: tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng; lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút; chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.
Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: nguồn nguy hiểm cao độ gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn khác do pháp luật quy định. Chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại; nếu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Đáng chú ý, chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường cả khi không có lỗi, trừ khi thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại, hoặc trong trường hợp bất khả kháng, tình thế cấp thiết (trừ quy định khác). Nếu nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường; chủ sở hữu có lỗi để bị chiếm hữu trái pháp luật thì liên đới bồi thường.
Ví dụ: ô tô, xe máy tông vào nhà dân, trụ điện đổ gây thiệt hại... chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu, sử dụng phải bồi thường ngay cả khi không có lỗi, trừ trường hợp miễn trừ. Đây là chế độ trách nhiệm nặng nhất nhằm bảo vệ người bị thiệt hại trước nguồn rủi ro cao.
Điều 603 Bộ luật Dân sự 2015: chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra; người chiếm hữu, sử dụng phải bồi thường trong thời gian chiếm hữu, sử dụng, trừ thỏa thuận khác. Người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm súc vật gây thiệt hại thì người thứ ba bồi thường; cùng có lỗi thì liên đới. Súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người chiếm hữu trái pháp luật bồi thường; chủ sở hữu có lỗi để bị chiếm hữu trái pháp luật thì liên đới. Súc vật thả rông theo tập quán gây thiệt hại thì chủ sở hữu bồi thường theo tập quán nhưng không trái pháp luật, đạo đức xã hội.
Ví dụ: chó cắn người, trâu bò húc đổ hàng rào... chủ sở hữu hoặc người đang chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường. Nếu chó được giao cho người khác trông giữ mà gây thiệt hại, người trông giữ bồi thường trong thời gian trông giữ, trừ thỏa thuận khác.
Điều 604 Bộ luật Dân sự 2015: chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra. Quy định áp dụng cho mọi loại cây: cây ăn quả, cây lấy gỗ, cây cảnh... khi cây đổ, cành gãy, quả rụng gây thiệt hại. Người chịu trách nhiệm là chủ sở hữu cây, người chiếm hữu cây hoặc người được giao quản lý cây (như đơn vị quản lý cây xanh đô thị).
Ví dụ: cây nhà hàng xóm đổ đè hỏng mái nhà, nhánh cây gãy rơi trúng người đi đường... chủ sở hữu, người chiếm hữu hoặc người được giao quản lý cây phải bồi thường. Đây là tình huống thường gặp trong dân cư, đặc biệt vào mùa mưa bão.
Điều 605 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác. Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường.
Quy định bao trùm: tường nhà đổ đè hỏng nhà bên cạnh, công trình thi công rơi vật liệu, nhà cũ xuống cấp gây sụt lún, hư hỏng công trình liền kề... Người chịu trách nhiệm gồm chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng; nếu nhà thầu có lỗi thì liên đới bồi thường. Các vụ tranh chấp loại này phức tạp vì phải xác định nguyên nhân sụt lún, hư hỏng và lỗi từng bên — cần thu thập chứng cứ, giám định thiệt hại và tham khảo ý kiến luật sư.
Theo Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015, người gây thiệt hại không phải bồi thường khi thiệt hại do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. Với nguồn nguy hiểm cao độ (Điều 601), ngoài hai trường hợp trên còn có tình thế cấp thiết; chỉ có lỗi cố ý của người bị thiệt hại mới được miễn trách nhiệm — lỗi vô ý không miễn.
Về giảm mức, Điều 585 quy định người chịu trách nhiệm có thể được giảm mức nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế. Khi mức bồi thường không còn phù hợp thực tế, các bên có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền thay đổi mức bồi thường.
Người bị thiệt hại có thể: thu thập chứng cứ (ảnh, video hiện trường, biên bản, giấy tờ xác định chủ sở hữu tài sản, hóa đơn khắc phục, giám định nếu cần); gửi văn bản yêu cầu bồi thường, thương lượng mức bồi thường với chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản; hòa giải tại cơ sở nếu không thương lượng được; khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền.
Về thời hiệu, Điều 588 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Xác định đúng người phải bồi thường và mức thiệt hại là điểm mấu chốt — Công ty Luật Minh Bạch hỗ trợ đánh giá thiệt hại, thương lượng, khởi kiện; xem thêm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và hợp đồng vay tài sản.
Nội dung trên chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Mỗi vụ việc cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể.
Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý cây cối phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra theo Điều 604 Bộ luật Dân sự 2015.
Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường; người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường trong thời gian chiếm hữu, sử dụng theo Điều 603 Bộ luật Dân sự 2015.
Phương tiện giao thông cơ giới là nguồn nguy hiểm cao độ. Chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu, sử dụng phải bồi thường cả khi không có lỗi, trừ trường hợp quy định tại Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015.
Không phải bồi thường khi thiệt hại do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại; có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế, theo Điều 584, 585 Bộ luật Dân sự 2015.
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, theo Điều 588 Bộ luật Dân sự 2015.
Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật (kiểm tra hiệu lực ngày 10/08/2026), bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.