Điều 91 BLTTDS 2015: Nghĩa vụ chứng minh | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 91 BLTTDS 2015: Nghĩa vụ chứng minh

Tố tụng dân sự & hành chính · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Nội dung Điều 91
  2. Ai phải chứng minh và chứng minh điều gì
  3. Hậu quả khi không chứng minh được
  4. Đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ
  5. Thực tiễn chuẩn bị hồ sơ khởi kiện

Điều 91. Nghĩa vụ chứng minh 1. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ các trường hợp sau đây: a) Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; b) Đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà không cung cấp, giao nộp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án. Người lao động khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động; c) Các trường hợp pháp luật có quy định khác về nghĩa vụ chứng minh. 2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó. 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Nội dung Điều 91

Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ chứng minh, được xem là nguyên tắc nền tảng trong tố tụng dân sự. Theo đó, đương sự có nghĩa vụ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Cụ thể, người khởi kiện, người yêu cầu phải cung cấp chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp; người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải đưa ra chứng cứ để phản đối hoặc chứng minh yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của mình. Trường hợp cơ quan, tổ chức khởi kiện vì lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thì các cơ quan, tổ chức này có trách nhiệm cung cấp chứng cứ.

Nghĩa vụ chứng minh không phải là tuyệt đối. Khoản 2 Điều 91 cho phép đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu họ không thể tự mình thu thập được. Bên cạnh đó, Điều 92 BLTTDS quy định các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, bao gồm: sự thật hiển nhiên; sự kiện đã được xác định bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; văn bản công chứng, chứng thực hợp pháp; và tình tiết được đương sự thừa nhận.

Trong thực tiễn, nguyên tắc này thể hiện rõ qua tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Nguyên đơn phải chứng minh việc giao kết hợp đồng và chuyển giao tiền vay (giấy vay, sao kê ngân hàng). Bị đơn nếu cho rằng đã trả nợ thì phải đưa ra chứng cứ về việc trả nợ (biên nhận, chuyển khoản). Nếu bị đơn thừa nhận khoản vay nhưng chưa trả thì Tòa án không buộc nguyên đơn phải chứng minh thêm. Việc phân bổ nghĩa vụ chứng minh chính xác sẽ bảo đảm quyền lợi cho các bên và giúp Tòa án giải quyết vụ việc công minh, đúng pháp luật.

2. Ai phải chứng minh và chứng minh điều gì

Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định nguyên tắc cơ bản về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự: đương sự có nghĩa vụ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Cụ thể, người khởi kiện (nguyên đơn) phải đưa ra chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp. Người bị kiện (bị đơn) phải chứng minh việc phản đối yêu cầu của nguyên đơn, nếu có. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chứng minh cho yêu cầu độc lập hoặc việc phản đối yêu cầu của mình. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vì lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc lợi ích của người khác cũng có nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 91.

Về nội dung chứng minh, đương sự phải chứng minh các tình tiết, sự kiện mà mình căn cứ vào đó để đưa ra yêu cầu, phản đối hoặc bảo vệ quyền lợi. Ví dụ, trong tranh chấp hợp đồng vay tài sản, nguyên đơn phải chứng minh có hợp đồng vay, số tiền đã giao, thời hạn vay; bị đơn nếu cho rằng đã trả nợ thì phải chứng minh việc trả nợ đó. Trong vụ án ly hôn, người yêu cầu cấp dưỡng phải chứng minh thu nhập và khả năng lao động của mình, cũng như khả năng kinh tế của bên kia.

Bên cạnh đó, Điều 92 BLTTDS 2015 quy định các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, bao gồm: sự thật hiển nhiên, tình tiết đã được bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật xác định, tình tiết đã được văn bản công chứng, chứng thực hợp lệ, hoặc đã được xác định trong quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nhờ đó, đương sự không phải chứng minh lại các tình tiết này, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí tố tụng.

3. Hậu quả khi không chứng minh được

Theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2015, đương sự có nghĩa vụ chứng minh các tình tiết, sự kiện mà mình đưa ra để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. Hậu quả pháp lý khi không thực hiện được nghĩa vụ này là Tòa án sẽ không chấp nhận yêu cầu hoặc phản đối của đương sự đó.

Trong thực tiễn, nếu nguyên đơn khởi kiện đòi nợ nhưng không xuất trình được hợp đồng, giấy vay hoặc chứng cứ giao tiền, Tòa án sẽ bác yêu cầu do thiếu căn cứ. Bị đơn phản đối cũng phải chứng minh; nếu không, lời phản đối không được xem xét. Như vậy, rủi ro thuộc về người không đáp ứng nghĩa vụ chứng minh.

Điều 92 BLTTDS quy định các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, như sự thật hiển nhiên, đã được xác định bằng bản án có hiệu lực pháp luật. Nếu đương sự thuộc một trong các trường hợp này, được miễn chứng minh. Ngược lại, nếu không thuộc diện miễn và không chứng minh được, Tòa án căn cứ chứng cứ hiện có để giải quyết, thường bất lợi cho đương sự đó.

Do đó, đương sự cần chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ kịp thời. Việc không chứng minh được dẫn đến nguy cơ mất quyền lợi, bị bác đơn hoặc không được Tòa án bảo vệ. Nhận thức rõ hậu quả này là điều kiện tiên quyết để thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

4. Đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ

Theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2015, đương sự có nghĩa vụ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, không phải mọi tình tiết, sự kiện đều do đương sự tự thu thập chứng cứ. Khoản 2 Điều 91 BLTTDS trao quyền cho đương sự đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ nếu họ không thể tự thu thập được. Đây là cơ chế hỗ trợ quan trọng, bảo đảm nguyên tắc công bằng trong tố tụng.

Việc đề nghị phải được lập thành văn bản, nêu rõ lý do vì sao đương sự không thể tự thu thập (ví dụ: chứng cứ do cơ quan nhà nước nắm giữ nhưng không được cấp sao; tài liệu do bên thứ ba từ chối cung cấp; chứng cứ ở nước ngoài cần ủy thác tư pháp). Văn bản cần chỉ rõ tình tiết, sự kiện cần chứng minh và loại chứng cứ đề nghị thu thập. Tòa án xem xét tính hợp lý và khả năng thu thập được để ra quyết định chấp nhận hoặc từ chối.

Thực tiễn: Trong vụ tranh chấp về quyền sử dụng đất, nguyên đơn cho rằng hồ sơ địa chính do Văn phòng đăng ký đất đai quản lý thể hiện phần đất của mình, nhưng Văn phòng không cấp sao. Nguyên đơn có thể đề nghị Tòa án yêu cầu Văn phòng cung cấp hồ sơ. Nếu Tòa án không thu thập mà không có lý do chính đáng, đây có thể là căn cứ để kháng cáo, kháng nghị.

Bên cạnh đó, Điều 92 BLTTDS liệt kê các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, như sự thật được pháp luật công nhận hoặc được Tòa án ghi nhận. Khi đương sự đề nghị thu thập chứng cứ, cần lưu ý tránh yêu cầu đối với các tình tiết thuộc diện này vì sẽ bị Tòa án bác bỏ.

Tóm lại, quyền đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ là công cụ hữu hiệu giúp đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh. Đương sự cần chủ động, kịp thời và đúng thủ tục để được Tòa án hỗ trợ, góp phần giải quyết vụ việc khách quan, đúng pháp luật.

5. Thực tiễn chuẩn bị hồ sơ khởi kiện

Trong thực tiễn chuẩn bị hồ sơ khởi kiện, Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 đặt ra nguyên tắc nền tảng: đương sự có nghĩa vụ chứng minh để bảo vệ quyền lợi của mình. Người khởi kiện phải xuất trình chứng cứ chứng minh quan hệ pháp luật tranh chấp tồn tại và quyền lợi bị xâm phạm. Ví dụ, đối với tranh chấp hợp đồng vay tài sản, nguyên đơn cần cung cấp giấy vay tiền, giấy nhận nợ, sao kê giao dịch ngân hàng để chứng minh có việc vay và số tiền đã giao. Nếu thiếu chứng cứ này, Tòa án có thể trả lại đơn khởi kiện hoặc đình chỉ giải quyết vụ án vì không có căn cứ. Song song, Điều 92 BLTTDS 2015 quy định các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, giúp giảm nhẹ gánh nặng cho đương sự. Đó là các sự thật hiển nhiên (ví dụ: ngày 02/9 là ngày Quốc khánh), tình tiết đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tình tiết được ghi nhận trong văn bản công chứng, chứng thực hợp pháp, hoặc tình tiết được các bên thừa nhận. Trong thực tế soạn hồ sơ khởi kiện, luật sư cần rà soát ngay từ đầu các tình tiết thuộc diện miễn chứng minh để tránh thu thập chứng cứ không cần thiết. Thí dụ, nếu các bên từng tham gia hòa giải tại cơ sở và bị đơn đã thừa nhận nợ trong biên bản hòa giải, tình tiết đó có thể được xem là thừa nhận hoặc thoả thuận, thuộc trường hợp không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92. Tuy nhiên, sự thừa nhận này phải được ghi nhận bằng văn bản và không thuộc trường hợp bị ép buộc, lừa dối. Như vậy, việc chuẩn bị hồ sơ hiệu quả đòi hỏi vận dụng đồng thời Điều 91 để xác định đầy đủ chứng cứ gốc của giao dịch và Điều 92 để tận dụng các tình tiết đã được khẳng định, giúp tối ưu hóa quá trình chứng minh và nâng cao khả năng thành công của vụ kiện.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (92/2015/QH13) - Điều 91 về nghĩa vụ chứng minh
  • Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 - Điều 92 về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp