Điều 621 BLDS 2015: Người không được quyền hưởng di sản | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 621 BLDS 2015: Người không được quyền hưởng di sản

Thừa kế & di chúc · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/08
Mục lục:
  1. Nội dung Điều 621 BLDS 2015
  2. Các trường hợp bị tước quyền hưởng di sản
  3. Hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng dẫn đến mất quyền thừa kế
  4. Trường hợp ngoại lệ: người để lại di sản vẫn cho hưởng
  5. Phân biệt giữa từ chối nhận di sản và không được hưởng di sản
  6. Lưu ý khi giải quyết tranh chấp thừa kế

Điều 621. Người không được quyền hưởng di sản 1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản: a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. 2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Nội dung Điều 621 BLDS 2015

Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 quy định các trường hợp “người không được quyền hưởng di sản”. Đây là cơ chế loại trừ quyền thừa kế nhằm bảo vệ ý chí người để lại di sản, trật tự đạo đức gia đình, công bằng trong quan hệ thừa kế.

Theo khoản 1 Điều 621 BLDS 2015, 4 nhóm chủ thể không được hưởng di sản gồm: thứ nhất, người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, hoặc xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; thứ hai, người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; thứ ba, người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng phần di sản mà người đó có quyền hưởng; thứ tư, người có hành vi lừa dối, cưỡng ép, ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo, sửa chữa, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Điểm cần lưu ý: khoản 2 Điều 621 cho phép ngoại lệ. Nếu người để lại di sản đã biết hành vi của người thừa kế nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc, người đó vẫn được nhận di sản. Như vậy, Điều 621 không cấm tuyệt đối trong mọi trường hợp, mà vẫn tôn trọng ý chí định đoạt cuối cùng của người lập di chúc.

Về phân biệt pháp lý, Điều 621 khác Điều 620 BLDS 2015. Điều 620 là trường hợp người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản; còn Điều 621 là trường hợp pháp luật tước quyền hưởng di sản do có hành vi vi phạm nghiêm trọng. Đồng thời, dù Điều 644 BLDS 2015 bảo vệ “người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc”, quyền này không phải là ngoại lệ để vượt qua căn cứ loại trừ tại Điều 621.

Ví dụ thực tiễn: con có nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc cha mẹ nhưng cố tình bỏ mặc trong thời gian dài, gây hậu quả nghiêm trọng, có thể bị xác định là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng và không được hưởng di sản theo điểm b khoản 1 Điều 621. Hoặc người thân sửa chữa di chúc để tăng phần tài sản cho mình thì thuộc trường hợp bị loại trừ theo điểm d khoản 1 Điều 621.

Các trường hợp bị tước quyền hưởng di sản

Các trường hợp bị tước quyền hưởng di sản được quy định tại Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015. Đây là cơ chế loại trừ quyền thừa kế đối với người có hành vi nghiêm trọng, trái đạo đức, trái pháp luật đối với người để lại di sản hoặc người thừa kế khác.

Theo khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế không được quyền hưởng di sản nếu thuộc một trong các trường hợp: bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản; xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; có hành vi lừa dối, cưỡng ép, ngăn cản người để lại di sản lập di chúc; giả mạo, sửa chữa, hủy, che giấu di chúc nhằm hưởng di sản trái ý chí của người để lại di sản.

Ví dụ thực tiễn: con có nghĩa vụ chăm sóc cha mẹ nhưng cố ý bỏ mặc cha mẹ ốm đau trong thời gian dài, gây hậu quả nghiêm trọng, có thể bị xem xét là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng. Hoặc một người sửa nội dung di chúc để tăng phần di sản của mình, hành vi này thuộc trường hợp không được hưởng di sản theo Điều 621.

Cần phân biệt “không được quyền hưởng di sản” theo Điều 621 với “từ chối nhận di sản” theo Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015. Điều 621 là hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi vi phạm; Điều 620 là quyền tự định đoạt của người thừa kế, nếu việc từ chối không nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản.

Lưu ý: khoản 2 Điều 621 vẫn cho phép người thuộc các trường hợp trên được hưởng di sản nếu người để lại di sản đã biết hành vi đó nhưng vẫn cho họ hưởng theo di chúc. Quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc tại Điều 644 không loại trừ việc áp dụng Điều 621 khi người đó thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản.

Hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng dẫn đến mất quyền thừa kế

Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 quy định các trường hợp không được quyền hưởng di sản do có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Bản chất. Chế tài dân sự đặc biệt. Mục đích. Loại trừ người thừa kế có hành vi xâm hại trực tiếp người để lại di sản, xâm hại ý chí định đoạt di sản, hoặc trục lợi từ quan hệ thừa kế.

Cụ thể, người thừa kế bị mất quyền hưởng di sản nếu bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, hoặc ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản; xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó. Ngoài ra, người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản cũng thuộc diện bị loại trừ. Đây là các hành vi thể hiện sự trái ngược căn bản với đạo lý gia đình, nghĩa vụ chăm sóc, bảo vệ lẫn nhau.

Điều 621 còn loại trừ người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng phần di sản mà người đó có quyền hưởng. Nhóm hành vi thứ ba. Lừa dối, cưỡng ép, ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo, sửa chữa, hủy, che giấu di chúc nhằm hưởng di sản trái với ý chí của người chết. Trọng tâm. Bảo vệ tính trung thực của ý chí để lại di sản.

Ví dụ, con nhiều năm bỏ mặc cha mẹ già, không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng dù có điều kiện, mức độ vi phạm nghiêm trọng. Có thể bị xác định không được hưởng di sản theo Điều 621. Hoặc một người sửa nội dung di chúc để tăng phần cho mình. Dù tên vẫn có trong di chúc, quyền hưởng vẫn bị loại bỏ nếu thuộc trường hợp luật định.

Phân biệt. Điều 620 là từ chối nhận di sản. Quyền lựa chọn của người thừa kế. Điều 621 là bị pháp luật tước quyền hưởng do hành vi vi phạm. Đồng thời, cơ chế bảo vệ người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo Điều 644 không nhằm che chắn cho người thuộc diện Điều 621. Tuy nhiên, nếu người để lại di sản đã biết hành vi đó mà vẫn cho hưởng di sản theo di chúc, Điều 621 cho phép ngoại lệ.

Trường hợp ngoại lệ: người để lại di sản vẫn cho hưởng

Trường hợp ngoại lệ: người để lại di sản vẫn cho hưởng

Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 quy định các trường hợp người thừa kế không được quyền hưởng di sản, như cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe người để lại di sản; vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng; lừa dối, cưỡng ép, ngăn cản việc lập di chúc; giả mạo, sửa chữa, hủy di chúc nhằm hưởng di sản trái ý chí người lập di chúc.

Tuy nhiên, khoản 2 Điều 621 đặt ra ngoại lệ quan trọng: người thuộc các trường hợp trên vẫn được hưởng di sản nếu người để lại di sản đã biết hành vi đó nhưng vẫn cho họ hưởng theo di chúc. Điều kiện cốt lõi gồm: người lập di chúc biết rõ hành vi vi phạm; ý chí cho hưởng phải thể hiện trong di chúc hợp pháp; phần được hưởng xác định theo nội dung di chúc.

Ví dụ: ông A từng bị con trai là B ngược đãi, thuộc trường hợp có thể bị truất quyền hưởng di sản theo Điều 621. Sau đó, ông A biết rõ sự việc, nhưng lập di chúc hợp pháp để lại cho B một căn nhà vì xét hoàn cảnh B đã sửa chữa lỗi lầm. Khi ông A chết, B vẫn có thể được nhận căn nhà theo di chúc, do thuộc ngoại lệ tại khoản 2 Điều 621.

Cần phân biệt ngoại lệ này với quyền hưởng di sản không phụ thuộc nội dung di chúc tại Điều 644. Điều 644 bảo vệ một số người thừa kế bắt buộc, nhưng không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo Điều 620 hoặc người không có quyền hưởng di sản theo khoản 1 Điều 621. Vì vậy, nếu người vi phạm chỉ được cho hưởng theo khoản 2 Điều 621, phạm vi hưởng nên hiểu theo đúng ý chí trong di chúc, không mặc nhiên mở rộng thành suất thừa kế bắt buộc.

Ngoài ra, sau khi được cho hưởng theo di chúc, người thừa kế vẫn có quyền từ chối nhận di sản theo Điều 620, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản với người khác.

Phân biệt giữa từ chối nhận di sản và không được hưởng di sản

“Từ chối nhận di sản” và “không được quyền hưởng di sản” đều dẫn đến hệ quả cuối cùng là một người không nhận phần thừa kế, nhưng bản chất pháp lý hoàn toàn khác nhau.

Thứ nhất, “từ chối nhận di sản” theo Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015 là quyền lựa chọn của người thừa kế. Người này vốn có quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật, nhưng chủ động không nhận. Việc từ chối phải được thể hiện theo đúng quy định; đồng thời, pháp luật không cho phép từ chối nếu mục đích nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình. Ví dụ, một người con là hàng thừa kế thứ nhất, sau khi cha mất đã lập văn bản từ chối nhận phần di sản vì muốn nhường toàn bộ cho mẹ. Trường hợp này, người con không bị coi là vi phạm hay bị tước quyền thừa kế, mà chỉ là không thực hiện quyền nhận di sản.

Thứ hai, “không được quyền hưởng di sản” theo Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 là trường hợp pháp luật loại trừ quyền thừa kế do người thừa kế có hành vi vi phạm nghiêm trọng, như cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, ngược đãi nghiêm trọng người để lại di sản; vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng; lừa dối, cưỡng ép, giả mạo, sửa chữa, che giấu di chúc. Đây không còn là quyền lựa chọn của người thừa kế, mà là hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi trái pháp luật. Ví dụ thực tiễn, người con có hành vi giả mạo di chúc để chiếm toàn bộ nhà đất của mẹ thì có thể bị xác định thuộc trường hợp Điều 621, từ đó không được hưởng di sản.

Thứ ba, cần phân biệt với Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc vẫn có thể được hưởng phần di sản bắt buộc, nhưng chỉ khi họ không thuộc trường hợp bị tước quyền theo Điều 621. Nói cách khác, Điều 644 bảo vệ một số chủ thể yếu thế; còn Điều 621 đặt ra giới hạn đạo đức, pháp lý đối với quyền thừa kế.

Tóm lại, Điều 620 là sự tự nguyện không nhận; Điều 621 là bị pháp luật loại trừ quyền hưởng. Một bên xuất phát từ ý chí của người thừa kế; bên kia xuất phát từ hành vi vi phạm và chế tài của pháp luật.

Lưu ý khi giải quyết tranh chấp thừa kế

Lưu ý khi giải quyết tranh chấp thừa kế

Khi giải quyết tranh chấp thừa kế có yêu cầu áp dụng Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015, cần phân biệt rõ “không được quyền hưởng di sản” với “từ chối nhận di sản”. Điều 621 áp dụng với người có hành vi vi phạm nghiêm trọng như cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, ngược đãi nghiêm trọng người để lại di sản, vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng, lừa dối, cưỡng ép, ngăn cản việc lập di chúc, giả mạo, sửa chữa, hủy di chúc nhằm hưởng di sản trái ý chí người để lại di sản. Đây là căn cứ loại trừ quyền hưởng di sản, không phụ thuộc việc người đó có tên trong hàng thừa kế hay trong di chúc.

Chứng cứ là yếu tố quyết định. Bên yêu cầu loại trừ quyền hưởng di sản phải chứng minh hành vi thuộc Điều 621. Ví dụ, con thường xuyên bạo hành cha mẹ, có bản án, quyết định xử phạt, hồ sơ bệnh án, lời khai phù hợp, có thể bị xem xét không được hưởng di sản. Ngược lại, mâu thuẫn gia đình thông thường, thiếu chăm sóc do điều kiện khách quan, hoặc lời tố cáo không có chứng cứ vững chắc chưa đủ để loại trừ quyền thừa kế.

Cần kiểm tra ngoại lệ tại Điều 621: người thuộc trường hợp không được hưởng di sản vẫn được hưởng nếu người để lại di sản đã biết hành vi đó nhưng vẫn cho hưởng theo di chúc. Vì vậy, thời điểm lập di chúc, nội dung di chúc, mức độ người lập di chúc biết rõ sự việc cần được làm rõ.

Trường hợp người thừa kế tự nguyện không nhận di sản, phải áp dụng Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015 về từ chối nhận di sản, không mặc nhiên coi là thuộc Điều 621. Việc từ chối phải không nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản với người khác.

Ngoài ra, khi có di chúc, vẫn cần đối chiếu Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Một số chủ thể như con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng có thể được hưởng phần di sản bắt buộc, trừ khi họ từ chối nhận di sản theo Điều 620 hoặc thuộc trường hợp không được quyền hưởng theo Điều 621.

Lưu ý khi áp dụng

Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13) - Điều 621 về người không được quyền hưởng di sản
  • Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13) - Điều 620 về từ chối nhận di sản
  • Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13) - Điều 644 về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp