Điều 35 BLTTDS 2015: Thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 35 BLTTDS 2015: Thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực

Tố tụng dân sự & hành chính · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/08
Mục lục:
  1. Nguyên tắc phân cấp thẩm quyền
  2. Vụ án dân sự thuộc thẩm quyền cấp huyện
  3. Yêu cầu dân sự thuộc thẩm quyền cấp huyện
  4. Trường hợp chuyển lên cấp tỉnh
  5. Thực tiễn xác định Tòa án có thẩm quyền

Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện 1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây: a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này; b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật này; c) Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này. 2. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những yêu cầu sau đây: a) Yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27 của Bộ luật này; b) Yêu cầu về hôn nhân và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 29 của Bộ luật này; c) Yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 31 của Bộ luật này; d) Yêu cầu về lao động quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 33 của Bộ luật này. 3. Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này. 4. Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, c

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Nguyên tắc phân cấp thẩm quyền

Nguyên tắc phân cấp thẩm quyền theo cấp xét xử trong BLTTDS 2015 được thiết kế theo hướng: Tòa án nhân dân cấp huyện là cấp xét xử sơ thẩm thông thường; Tòa án nhân dân cấp tỉnh là cấp xét xử sơ thẩm đối với các vụ việc bị loại trừ khỏi thẩm quyền cấp huyện hoặc có tính chất phức tạp hơn. Căn cứ trực tiếp là khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Theo khoản 1 Điều 35, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; các yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc các điều luật tương ứng của BLTTDS, trừ những trường hợp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo Điều 37. Như vậy, nguyên tắc cốt lõi là “cấp huyện giải quyết trước”, còn “cấp tỉnh giải quyết ngoại lệ”.

Khoản 1 Điều 37 xác định phần thẩm quyền còn lại của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, đặc biệt đối với các vụ việc không thuộc Điều 35. Về bản chất, Điều 37 đóng vai trò điều khoản phân luồng: khi vụ việc có yếu tố khiến cấp huyện không còn thẩm quyền thì thẩm quyền sơ thẩm chuyển lên cấp tỉnh. Cách thiết kế này bảo đảm phân bổ hợp lý khối lượng công việc, đồng thời phù hợp mức độ phức tạp, phạm vi ảnh hưởng của từng loại vụ việc.

Ví dụ thực tiễn: tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa hai cá nhân cùng cư trú trong nước, không có yếu tố đặc biệt theo Điều 37, về nguyên tắc thuộc thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện theo Điều 35. Ngược lại, nếu vụ việc thuộc nhóm mà Điều 37 giao cho cấp tỉnh thì đương sự phải khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền, không nộp đơn ở cấp huyện. Vì vậy, khi xác định thẩm quyền, cần đối chiếu Điều 35 trước, sau đó kiểm tra ngay các trường hợp loại trừ tại Điều 37 để tránh nộp sai cấp Tòa án, kéo dài thời gian tố tụng.

Vụ án dân sự thuộc thẩm quyền cấp huyện

Vụ án dân sự thuộc thẩm quyền cấp huyện được xác định chủ yếu theo Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Theo khoản 1 Điều 35, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26, Điều 28; tranh chấp kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30; tranh chấp lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Về bản chất, thẩm quyền cấp huyện áp dụng cho các vụ án thông thường, phạm vi tranh chấp rõ, đương sự chủ yếu ở trong nước, không phát sinh yếu tố phức tạp về thẩm quyền quốc tế. Ví dụ: tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa hai cá nhân cùng cư trú tại Việt Nam; tranh chấp quyền sử dụng đất giữa hộ gia đình, cá nhân; ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản chung của vợ chồng; tranh chấp tiền lương, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động giữa người lao động và doanh nghiệp trong nước. Các vụ việc này, nếu không có yếu tố thuộc Điều 37, thường do Tòa án nhân dân cấp huyện thụ lý sơ thẩm.

Cần đối chiếu Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để loại trừ. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền đối với vụ án có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, hoặc cần ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài; đồng thời có quyền lấy lên giải quyết vụ án thuộc cấp huyện khi cần thiết. Vì vậy, cùng là tranh chấp hợp đồng, nếu một bên cư trú ở nước ngoài hoặc tài sản tranh chấp ở nước ngoài, thẩm quyền có thể chuyển lên cấp tỉnh.

Riêng tranh chấp dân sự quy định tại khoản 7 Điều 26 không thuộc thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện theo điểm a khoản 1 Điều 35. Khi xác định nơi nộp đơn, cần kiểm tra đồng thời loại tranh chấp, yếu tố nước ngoài, tài sản tranh chấp, nơi cư trú của bị đơn, thỏa thuận hợp pháp về thẩm quyền nếu có.

Yêu cầu dân sự thuộc thẩm quyền cấp huyện

Theo khoản 2 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các “yêu cầu” thuộc phạm vi luật định; trong đó, đối với yêu cầu dân sự, điểm a khoản 2 Điều 35 dẫn chiếu các việc quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9, 10 và 11 Điều 27 BLTTDS 2015. Đây là nhóm việc dân sự không phải tranh chấp quyền, nghĩa vụ theo nghĩa đối kháng, mà chủ yếu là yêu cầu Tòa án công nhận, tuyên bố hoặc hủy bỏ một tình trạng pháp lý, một sự kiện pháp lý làm căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

Về bản chất, việc giao thẩm quyền này cho cấp huyện phù hợp với tính chất phổ biến, gần dân, thuận tiện thu thập chứng cứ và xác minh tại địa phương. Thực tiễn thường gặp: người thân yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích để làm cơ sở quản lý tài sản, giải quyết quan hệ dân sự liên quan; hoặc yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố chết khi người bị tuyên bố chết đã trở về. Các việc này thường gắn chặt với nơi cư trú, nơi có tài sản, quan hệ nhân thân tại địa phương nên cấp huyện là cấp xét xử phù hợp, bảo đảm tiếp cận công lý nhanh hơn, chi phí tố tụng thấp hơn.

Tuy nhiên, thẩm quyền cấp huyện không phải tuyệt đối. Điều 35 BLTTDS 2015 đặt ra ngoại lệ “trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo Điều 37”. Theo Điều 37, những việc dân sự có yếu tố nước ngoài, có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, cần ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền nước ngoài hoặc trường hợp Tòa án cấp tỉnh lấy lên giải quyết khi xét thấy cần thiết sẽ không còn thuộc thẩm quyền sơ thẩm của cấp huyện. Vì vậy, khi xác định đúng cấp Tòa án, cần đối chiếu đồng thời khoản 2 Điều 35 với Điều 37 BLTTDS 2015 để tránh nộp đơn sai thẩm quyền, kéo dài thời gian giải quyết.

Trường hợp chuyển lên cấp tỉnh

Trường hợp chuyển lên cấp tỉnh phát sinh khi vụ việc không còn thuộc thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện theo Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, hoặc thuộc trường hợp Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền theo Điều 37 Bộ luật này.

Theo khoản 3 Điều 35 BLTTDS 2015, Tòa án cấp huyện không có thẩm quyền giải quyết những vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động nếu có đương sự ở nước ngoài, tài sản ở nước ngoài, hoặc cần ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền nước ngoài. Các vụ việc này thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo Điều 37 BLTTDS 2015.

Ví dụ: tranh chấp chia di sản thừa kế là nhà đất tại Việt Nam nhưng một người thừa kế đang định cư tại Hoa Kỳ. Dù nhà đất nằm tại địa bàn cấp huyện, vụ án vẫn phải do Tòa án cấp tỉnh thụ lý, vì có đương sự ở nước ngoài, việc tống đạt giấy tờ tố tụng có thể cần ủy thác tư pháp. Tương tự, tranh chấp ly hôn giữa công dân Việt Nam cư trú trong nước với người đang cư trú tại nước ngoài cũng không thuộc thẩm quyền cấp huyện.

Ngoại lệ cần lưu ý: khoản 4 Điều 35 BLTTDS 2015 quy định Tòa án cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về quyền, nghĩa vụ vợ chồng giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam.

Ngoài yếu tố nước ngoài, Điều 37 BLTTDS 2015 còn cho phép Tòa án cấp tỉnh lấy lên để giải quyết vụ việc thuộc thẩm quyền cấp huyện khi xét thấy cần thiết, hoặc theo đề nghị của Tòa án cấp huyện. Khi phát hiện sai thẩm quyền, hồ sơ phải được chuyển cho Tòa án có thẩm quyền, bảo đảm việc giải quyết đúng cấp xét xử sơ thẩm.

Thực tiễn xác định Tòa án có thẩm quyền

Trong thực tiễn, việc xác định Tòa án có thẩm quyền thường bắt đầu từ nguyên tắc: thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện là thẩm quyền sơ thẩm thông thường; chỉ khi vụ việc thuộc trường hợp luật giao cho cấp tỉnh thì mới chuyển lên cấp tỉnh. Căn cứ trực tiếp là Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: Tòa án nhân dân cấp huyện giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc phạm vi luật định, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo Điều 37.

Vì vậy, khi tiếp nhận vụ việc, cần đối chiếu theo 2 bước. Bước 1: xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp hoặc yêu cầu. Nếu là tranh chấp dân sự, ly hôn, tranh chấp hợp đồng, lao động... thì trước hết đặt trong khung Điều 35. Bước 2: loại trừ các trường hợp thuộc Điều 37. Thực tiễn cho thấy dấu hiệu quan trọng nhất là yếu tố nước ngoài hoặc việc giải quyết đòi hỏi phải ủy thác tư pháp ra nước ngoài; khi đó, thẩm quyền sơ thẩm thường thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo Điều 37. Ngược lại, nếu vụ án không có yếu tố này, không thuộc diện luật giao cho cấp tỉnh, thì nguyên tắc là cấp huyện thụ lý.

Ví dụ, tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa hai cá nhân cùng cư trú trong nước, không có đương sự ở nước ngoài, không cần thu thập chứng cứ ở nước ngoài: về thực tiễn, đây thường là vụ án thuộc thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện theo Điều 35. Nhưng nếu một bên đương sự đang cư trú ở nước ngoài, hoặc cần tống đạt, thu thập chứng cứ thông qua cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, thì phải rà soát Điều 37 để xác định thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Điểm mấu chốt: không chỉ nhìn tên tranh chấp, mà phải kiểm tra đầy đủ chủ thể, nơi cư trú, nơi có tài sản, phạm vi chứng cứ và khả năng phát sinh yếu tố nước ngoài để tránh nộp đơn sai cấp Tòa án.

Lưu ý khi áp dụng

Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (92/2015/QH13) - Điều 35 về thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực
  • Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 - Điều 37 về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh

Lưu ý: Luật Tổ chức TAND sửa đổi 2025 (81/2025/QH15, hiệu lực 01/7/2025) đã thay đổi tên gọi "Tòa án nhân dân cấp huyện" thành "Tòa án nhân dân khu vực". Các quy định về thẩm quyền được giữ nguyên.

Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp