Điều 3. Tuân thủ pháp luật trong tố tụng dân sự Mọi hoạt động tố tụng dân sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải tuân theo các quy định của Bộ luật này.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Luật Trọng tài thương mại 2010 (Luật số 54/2010/QH12) là văn bản pháp lý chuyên ngành điều chỉnh hoạt động trọng tài thương mại tại Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 01/01/2011. Luật gồm 7 chương, 84 điều, tạo hành lang pháp lý thống nhất cho phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án. Phạm vi áp dụng: tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các bạn hàng (Điều 2).
Theo Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (Điều 30), tranh chấp kinh doanh thương mại giữa cá nhân/tổ chức có hoạt động kinh doanh là tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân/tổ chức có hoạt động kinh doanh — đều thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Trọng tài thương mại 2010.
"Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận, không phải bằng Tòa án. Trọng tài viên là người do các bên lựa chọn hoặc do Trọng tài viên được chỉ định để giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật này."
Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài tuân thủ các nguyên tắc cơ bản được quy định tại Luật Trọng tài thương mại 2010, đảm bảo tính khách quan, minh bạch và tôn trọng ý chí của các bên. Các nguyên tắc này là nền tảng cho toàn bộ quá trình tố tụng trọng tài.
Điều 3. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
1. Trọng tài viên độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo pháp luật.
2. Các bên được tự nguyện thỏa thuận việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, tự nguyện lựa chọn Trọng tài viên, Trọng tài, luật áp dụng, ngôn ngữ tranh tụng và các thỏa thuận khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 của Luật này.
3. Phiên họp giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
4. Tranh chấp do Trọng tài quyết định theo quy định của Luật này; đối với yếu tố nước ngoài được áp dụng theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, pháp luật về trọng tài nước ngoài và tập quán quốc tế.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 4. Quyền tự định đoạt của các bên trong việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
Trong phạm vi được pháp luật cho phép, các bên có quyền tự định đoạt trong việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài: lựa chọn Trọng tài viên, luật áp dụng, ngôn ngữ tranh tụng, địa điểm tranh tụng, tố tụng trọng tài và các nội dung khác.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Ngoài ra, việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài chỉ áp dụng đối với các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các bên có yếu tố nước ngoài hoặc giữa các bên tham gia quan hệ kinh doanh thương mại quy định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
Theo Luật Trọng tài thương mại 2010 (Luật số 54/2010/QH12), thỏa thuận trọng tài là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa các bên về việc giải quyết tranh chấp phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa họ bằng Trọng tài, được thể hiện dưới ba hình thức cụ thể theo quy định tại Điều 16, Điều 17 và Điều 18.
Là điều khoản trọng tài ghi trong hợp đồng do các bên ký kết, nhằm giải quyết tranh chấp phát sinh từ chính hợp đồng đó. Khi tranh chấp xảy ra, điều khoản này có hiệu lực buộc các bên phải đưa vụ việc ra Trọng tài thay vì Tòa án.
"Thỏa thuận trọng tài là thoả thuận bằng văn bản giữa các bên về việc giải quyết tranh chấp phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa họ bằng Trọng tài."
(Điều 16 Luật Trọng tài thương mại 2010)
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Là thỏa thuận được lập thành văn bản riêng biệt ngoài hợp đồng, áp dụng cho tranh chấp đã phát sinh hoặc có thể phát sinh trong tương lai giữa các bên. Văn bản này có giá trị pháp lý độc lập với hợp đồng chính.
"Thoả thuận trọng tài có thể được lập dưới dạng một văn bản riêng sau khi tranh chấp phát sinh."
(Điều 17 Luật Trọng tài thương mại 2010)
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập thông qua thư điện tử (email), điện tín, fax, telegram hoặc các phương thức trao đổi thông tin khác mà các bên có thể tiếp cận và sử dụng để xác lập thỏa thuận. Điều kiện cốt lõi là thể hiện được ý chí rõ ràng của các bên bằng văn bản.
"Thoả thuận trọng tài bằng thư điện tử được thể hiện bằng văn bản thông qua thư điện tử, điện tín, fax, telegram hoặc các phương thức trao đổi thông tin khác."
(Điều 18 Luật Trọng tài thương mại 2010)
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Thủ tục tố tụng trọng tài được tiến hành theo trình tự do các bên thỏa thuận trong thỏa thuận trọng tài hoặc theo quy tắc tố tụng của Trọng tài được chọn. Trường hợp không có thỏa thuận, áp dụng quy định của Luật Trọng tài thương mại 2010. Hình thức trọng tài gồm: trọng tài viên duy nhất, Hội đồng trọng tài gồm 3 trọng tài viên hoặc nhiều trọng tài viên với số lẻ (Điều 11).
Các bên có quyền tự định địa điểm, ngôn ngữ, thời hiệu gửi yêu cầu và hình thức hòa giải. Khi nhận đơn khởi kiện, Trọng tài xác minh thỏa thuận trọng tài hợp lệ, thông báo cho bị đơn trong thời hạn do các bên thỏa thuận; hết thời hạn mà không có thỏa thuận thì áp dụng thời hạn theo quy định pháp luật. Bên bị kiện có quyền gửi yêu cầu phản tố hoặc đơn kiện độc lập liên quan.
Trọng tài viên có quyền yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ; triệu tập người làm chứng; trong tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau hoặc giữa cá nhân, tổ chức nước ngoài, đương sự có thể yêu cầu Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Điều 30 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
Phiên họp giải quyết tranh chấp được tiến hành không công khai. Trọng tài viên xét hỏi, thu thập chứng cứ, tạo điều kiện hòa giải. Trường hợp hòa giải thành, Hội đồng trọng tài lập biên bản hòa giải thành, đương sự yêu cầu Tòa án công nhận. Trường hợp hòa giải không thành, Hội đồng trọng tài ra phán quyết.
Phán quyết phải được ban hành bằng văn bản, có căn cứ, lý do, nội dung, ngày hiệu lực và chữ ký trọng tài viên. Phán quyết chấm dứt tranh chấp, các bên phải thi hành; quyền yêu cầu Tòa án hủy phán quyết được thực hiện trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận phán quyết theo Điều 3-7, 16-18 Luật Trọng tài thương mại 2010.
Điều 3. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
1. Trọng tài viên và Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp trên cơ sở tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, không được giải quyết vượt quá phạm vi tranh chấp theo thỏa thuận trọng tài...
4. Thủ tục trọng tài được tiến hành tại địa điểm do các bên thỏa thuận; trường hợp không có thỏa thuận thì thủ tục trọng tài được tiến hành tại trụ sở của Trọng tài được lựa chọn.
7. Phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực đối với các bên tranh chấp.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 16. Hình thức thỏa thuận trọng tài
1. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp.
2. Thỏa thuận trọng tài có thể được quy định dưới hình thức một điều khoản riêng trong hợp đồng hoặc dưới hình thức một thỏa thuận riêng...
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 30. Tranh chấp về kinh doanh, thương mại
1. Các tranh chấp phát sinh giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau trong hoạt động kinh doanh, thương mại...
2. Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong hoạt động kinh doanh, thương mại mà có ít nhất một bên là cá nhân, tổ chức nước ngoài...
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Phán quyết trọng tài có giá trị pháp lý như bản án hoặc quyết định của Tòa án khi được công nhận và cho thi hành theo quy định pháp luật. Đây là giai đoạn cuối cùng nhưng then chốt để đảm bảo quyền lợi của các bên thực sự được thực thi.
Thẩm quyền xem xét công nhận: Thẩm quyền công nhận phán quyết trọng tài thuộc về Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi một trong các bên có trụ sở hoặc nơi cư trú. Tòa án không xem xét lại nội dung tranh chấp mà chỉ kiểm tra về hình thức và các điều kiện công nhận theo quy định.
Thời hạn nộp đơn: Đơn yêu cầu công nhận phải được nộp trong thời hạn 03 năm kể từ ngày phán quyết trọng tài có hiệu lực pháp lý.
Căn cứ từ chối công nhận: Tòa án có thể từ chối công nhận phán quyết trọng tài nước ngoài nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 69 Luật Trọng tài thương mại 2010.
Điều 69. Từ chối công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài
1. Phán quyết trọng tài nước ngoài chỉ bị từ chối công nhận và cho thi hành tại Việt Nam trong các trường hợp sau đây:
a) Các bên tham gia thỏa thuận trọng tài theo quy định tại Điều 16 và Điều 17 của Luật này không có năng lực giao kết theo pháp luật áp dụng;
b) Thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu theo pháp luật mà các bên đã chọn để giải quyết nội dung thỏa thuận hoặc theo pháp luật nước ngoài nơi phán quyết được đưa ra;
c) Bên bị yêu cầu không được thông báo kịp thời và đầy đủ về việc chỉ định trọng tài viên hoặc về thủ tục trọng tài hoặc vì lý do khác mà không thể trình bày ý kiến của mình;
d) Phán quyết trọng tài liên quan đến tranh chấp không phù hợp với nội dung thỏa thuận trọng tài;
đ) Thành phần Hội đồng trọng tài hoặc thủ tục trọng tài không phù hợp với thỏa thuận trọng tài hoặc pháp luật nước ngoài nơi tiến hành trọng tài;
e) Phán quyết trọng tài chưa có hiệu lực pháp lý đối với các bên hoặc bị hủy bỏ, tạm đình chỉ tại nước ngoài;
g) Việc công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài trái với quy định về trật tự công của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Thi hành phán quyết: Sau khi được công nhận, phán quyết trọng tài được thi hành theo thủ tục cưỡng chế như thi hành bản án Tòa án. Các bên có thể yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành.
Quy trình công nhận và thi hành phán quyết trọng tài thể hiện nguyên tắc hỗ trợ tư pháp của Việt Nam trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên trong tranh chấp thương mại, đồng thời tuân thủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Tổng quan Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài, nhằm tăng hiệu quả, giảm tải tòa án.
“Các bên có quyền tự nguyện lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp, trọng tài phải công bằng, độc lập và không thiên vị.” (Điều 3-7, Luật Trọng tài thương mại 2010)
“Thỏa thuận trọng tài phải được lập thành văn bản, ký kết bởi các bên hoặc được ghi trong hợp đồng.” (Điều 16-18, Luật Trọng tài thương mại 2010)
“Tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền của tòa án dân sự, trừ khi các bên đã thỏa thuận giải quyết bằng trọng tài.” (Điều 30, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015)
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.