Điều 65. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án 1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. 2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện của họ có quyền: a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này; b) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; c) Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật; d) Tham gia phiên tòa; phát biểu ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi những người tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa; đ) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình; e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; g) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình; h) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; i) Các quyền khác theo quy định của pháp luật. 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có nghĩa vụ: a) Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; b) Trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình; c) Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Án treo là hình phạt tù nhưng người phạm tội không phải chấp hành án tại trại giam mà được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước, chấp hành án tại nơi cư trú trong thời gian thử thách. Đây là biện pháp giáo dục, cải tạo kết hợp với sự giám sát, quản lý của cộng đồng, thể hiện chính sách hình sự nhân đạo.
Bản chất của án treo là sự kết hợp giữa hình phạt tù với việc tạm hoãn thi hành án. Theo Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2017), người bị xử phạt tù không quá 03 năm, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có tình tiết giảm nhẹ và không thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì có thể được hưởng án treo.
Ví dụ thực tiễn: A bị Tòa án tuyên phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS 2015). Tại phiên tòa, A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, có nơi cư trú ổn định và lần đầu phạm tội. Xét thấy đủ điều kiện, Tòa án áp dụng Điều 65 BLHS 2015, tuyên A chấp hành hình phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm.
Về quản lý người được hưởng án treo, theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được hưởng án treo cư trú có trách nhiệm tổ chức việc quản lý, giáo dục. Người được hưởng án treo phải thực hiện các nghĩa vụ: thường xuyên báo cáo tình hình với Ủy ban nhân dân cấp xã, không được tự ý rời nơi cư trú quá thời gian quy định, chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ dân sự, hình sự và các quyết định khác của Tòa án.
Nếu vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách, Tòa án sẽ ra quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù theo bản án đã tuyên. Đây là hậu quả pháp lý nghiêm trọng, thể hiện tính răn đe của pháp luật hình sự.
Nội dung đang được biên soạn.
Nội dung đang được biên soạn.
Người được hưởng án treo phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015. Vi phạm dẫn đến buộc chấp hành hình phạt tù.
Nghĩa vụ thứ nhất: Tuân thủ pháp luật. Không được tái phạm tội mới trong thời gian thử thách. Ví dụ: Được hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản, sau đó lại phạm tội cố ý gây thương tích thì bị buộc chấp hành hình phạt tù của cả hai bản án.
Nghĩa vụ thứ hai: Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ do Tòa án giao. Theo Khoản 2 Điều 65 BLHS 2015, Tòa án có thể giao người được hưởng án treo thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ sau:
Nghĩa vụ thứ ba: Báo cáo định kỳ. Theo Điều 389 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người được hưởng án treo phải báo cáo định kỳ hàng quý về việc thực hiện nghĩa vụ với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú. Ví dụ: Mỗi quý phải nộp báo cáo bằng văn bản về việc tuân thủ các nghĩa vụ đã được Tòa án giao.
Hậu quả vi phạm: Theo Khoản 3 Điều 65 BLHS 2015, nếu người được hưởng án treo vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ được giao hoặc phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án sẽ ra quyết định buộc chấp hành hình phạt tù đối với bản án đã cho hưởng án treo. Thời gian đã được hưởng án treo không được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
Ví dụ thực tiễn: A bị Tòa án tuyên 2 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 4 năm. Trong năm thứ 2, A phạm tội mới và bị tuyên 1 năm tù. Khi đó, A phải chấp hành tổng cộng 3 năm tù (2 năm từ bản án thứ nhất + 1 năm từ bản án thứ hai).
Người được hưởng án treo phải chịu sự quản lý, giáo dục của UBND cấp xã trong thời gian thử thách. Vi phạm điều kiện thử thách dẫn đến hậu quả pháp lý nghiêm trọng.
Căn cứ pháp lý: Theo Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, người được hưởng án treo phải thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật, chấp hành hình phạt bổ sung, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ dân sự do bản án, quyết định tòa án buộc phải thực hiện; phải thường xuyên báo cáo với UBND cấp xã về tình hình học tập, lao động, sinh hoạt.
Hậu quả cụ thể:
Ví dụ thực tiễn: A bị Tòa án tuyên 1 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 2 năm. Trong thời gian thử thách, A không thực hiện nghĩa vụ dân sự bồi thường thiệt hại cho nạn nhân theo bản án, không báo cáo định kỳ với UBND cấp xã. Khi đó, VKSNN hoặc cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Tòa án xem xét. Tòa án có thể quyết định thi hành án phạt tù 1 năm đối với A.
Quản lý người được hưởng án treo: Theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự, UBND cấp xã nơi người được hưởng án treo cư trú có trách nhiệm quản lý, giáo dục; theo dõi việc chấp hành pháp luật, thực hiện nghĩa vụ dân sự; định kỳ 6 tháng báo cáo kết quả lên Tòa án. Tòa án có quyền quyết định thi hành án phạt tù khi có đủ căn cứ vi phạm.
Sai lầm thường gặp khi áp dụng án treo:
Để tránh sai lầm, Tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt Điều 65 BLHS 2015, xem xét toàn diện điều kiện, tình tiết giảm nhẹ, khả năng cải tạo; đồng thời cơ quan thi hành án, UBND cấp xã cần phối hợp quản lý chặt chẽ người được hưởng án treo trong suốt thời gian thử thách.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm: