Điều 24. Quyền tiếp cận thông tin đất đai 1. Công dân được tiếp cận các thông tin đất đai sau đây: a) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, các quy hoạch có liên quan đến sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt; b) Kết quả thống kê, kiểm kê đất đai; c) Giao đất, cho thuê đất; d) Bảng giá đất đã được công bố; đ) Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; e) Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp đất đai; kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai, kết quả xử lý vi phạm pháp luật về đất đai; g) Thủ tục hành chính về đất đai; h) Văn bản quy phạm pháp luật về đất đai; i) Các thông tin đất đai khác theo quy định của pháp luật. 2. Việc tiếp cận thông tin đất đai thực hiện theo quy định của Luật này, pháp luật về tiếp cận thông tin và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 24. Quyền tiếp cận thông tin đất đai
1. Công dân được tiếp cận các thông tin đất đai sau đây:
2. Việc tiếp cận thông tin đất đai thực hiện theo quy định của Luật này, pháp luật về tiếp cận thông tin và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Phân tích. Điều 24 xác lập quyền tiếp cận thông tin đất đai của công dân, cụ thể hóa quyền hiến định tại Điều 25 Hiến pháp 2013 và Luật Tiếp cận thông tin 2016. Khoản 1 liệt kê chín nhóm thông tin, bao trùm toàn bộ vòng đời quản lý đất đai: từ quy hoạch (điểm a), biến động (điểm b, c), giá (điểm d), thu hồi - bồi thường (điểm đ) đến giám sát, xử lý vi phạm (điểm e). Điểm i là điều khoản mở, cho phép mở rộng phạm vi theo pháp luật chuyên ngành.
Ví dụ thực tiễn. Người dân có đất nằm trong vùng quy hoạch có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký đất đai cung cấp thông tin quy hoạch sử dụng đất (điểm a) và bảng giá đất (điểm d) để xác định giá trị bồi thường khi thu hồi. Khiếu nại về bồi thường, người dân được tiếp cận phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã phê duyệt (điểm đ) và kết quả giải quyết khiếu nại (điểm e).
Lưu ý áp dụng. Khoản 2 dẫn chiếu Luật Tiếp cận thông tin 2016, theo đó thông tin phải được công khai, cung cấp theo trình tự, thủ tục và thời hạn luật định; một số thông tin thuộc diện bí mật nhà nước, bí mật cá nhân được loại trừ theo Điều 6, Điều 7 Luật này. Quyền tiếp cận gắn với nghĩa vụ công khai của cơ quan nhà nước, tạo cơ chế giám sát xã hội đối với quản lý đất đai.
Phạm vi thông tin đất đai được tiếp cận
Khoản 1 Điều 24 Luật Đất đai 2024 (31/2024/QH15) xác lập phạm vi thông tin đất đai công dân được tiếp cận, gồm chín nhóm. Cách liệt kê theo hướng mở, kết thúc bằng điểm i "các thông tin đất đai khác theo quy định của pháp luật" — cho thấy đây là danh mục tối thiểu, không khép kín.
Nhóm thứ nhất là thông tin quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các quy hoạch liên quan đến sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định, phê duyệt (điểm a). Điều kiện "đã được quyết định, phê duyệt" giới hạn phạm vi: công dân tiếp cận sản phẩm quy hoạch hoàn chỉnh, không phải dự thảo đang trong quá trình lập. Nhóm thứ hai là kết quả thống kê, kiểm kê đất đai (điểm b) — dữ liệu nền phục vụ giám sát biến động đất đai theo chu kỳ.
Nhóm thứ ba là thông tin giao đất, cho thuê đất (điểm c); nhóm thứ tư là bảng giá đất đã công bố (điểm d). Điểm đ đưa vào phạm vi phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đã được phê duyệt — nhóm thông tin có ý nghĩa trực tiếp với người bị thu hồi đất, giúp họ đối chiếu quyền lợi. Nhóm thứ sáu (điểm e) gồm kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.
Ba nhóm còn lại mang tính thủ tục và pháp lý: thủ tục hành chính về đất đai (điểm g), văn bản quy phạm pháp luật về đất đai (điểm h) và nhóm mở tại điểm i.
Hình thức yêu cầu. Điều 24 không quy định riêng hình thức, trình tự yêu cầu cung cấp thông tin đất đai. Khoản 2 Điều 24 dẫn chiếu áp dụng theo Luật Đất đai 2024, pháp luật về tiếp cận thông tin và quy định khác có liên quan. Do đó, trình tự thực hiện theo Luật Tiếp cận thông tin: người yêu cầu gửi văn bản yêu cầu trực tiếp, qua bưu điện, fax, thư điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan có thẩm quyền.
Trình tự. Cơ quan tiếp nhận có trách nhiệm hướng dẫn, tiếp nhận và xử lý. Thời hạn giải quyết theo Luật Tiếp cận thông tin; trường hợp thông tin phức tạp, liên quan nhiều cơ quan thì có thể kéo dài theo luật định nhưng phải thông báo cho người yêu cầu. Với thông tin đã công khai, cơ quan cung cấp hoặc hướng dẫn truy cập, không phải giải quyết như yêu cầu mới.
Phân tích. Cách dẫn chiếu tại khoản 2 Điều 24 tạo cơ chế "một cửa pháp lý": Luật Đất đai xác định phạm vi thông tin (khoản 1), còn trình tự, thời hạn, hình thức do pháp luật về tiếp cận thông tin điều chỉnh. Cách thiết kế này tránh trùng lặp, bảo đảm thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy người dân thường gặp khó khi không xác định đúng cơ quan quản lý thông tin (ví dụ: bảng giá đất do UBND cấp tỉnh công bố, nhưng hồ sơ giao đất cụ thể do cơ quan đăng ký đất đai quản lý).
Ví dụ. Công dân yêu cầu bảng giá đất đã công bố (điểm d khoản 1 Điều 24): cơ quan cung cấp ngay hoặc hướng dẫn tra cứu trên cổng thông tin. Ngược lại, yêu cầu phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã phê duyệt (điểm đ khoản 1) cần xác định đúng cơ quan phê duyệt để gửi văn bản yêu cầu theo trình tự Luật Tiếp cận thông tin.
Lưu ý. Người yêu cầu nên nêu rõ thông tin thuộc khoản 1 Điều 24, mục đích (nếu luật yêu cầu) và hình thức nhận kết quả; cơ quan tiếp nhận phải trả lời bằng văn bản, nêu lý do khi từ chối.
Ví dụ áp dụng: tra cứu quy hoạch trước khi mua đất
Ông A dự định mua thửa đất ở của ông B tại xã X. Trước khi đặt cọc, ông A cần xác minh thửa đất có nằm trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hay quy hoạch có liên quan đến sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt hay không.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24 Luật Đất đai 2024 (31/2024/QH15), ông A với tư cách công dân có quyền tiếp cận thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các quy hoạch có liên quan đến sử dụng đất đã được quyết định, phê duyệt. Ông A đề nghị Ủy ban nhân dân xã X hoặc cơ quan quản lý đất đai cấp huyện cung cấp thông tin quy hoạch đối với thửa đất dự kiến mua.
Kết quả tra cứu cho thấy thửa đất thuộc khu vực quy hoạch mở đường giao thông. Ông A quyết định không mua, tránh rủi ro bị thu hồi đất và phát sinh tranh chấp về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Việc tra cứu trước khi giao dịch thể hiện đúng mục đích của Điều 24: bảo đảm công khai, minh bạch thông tin đất đai, giúp công dân ra quyết định đúng đắn, hạn chế rủi ro. Trình tự, thủ tục tiếp cận thông tin thực hiện theo khoản 2 Điều 24, dẫn chiếu Luật này, pháp luật về tiếp cận thông tin và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Ví dụ áp dụng: xin trích lục bản đồ địa chính để xác định ranh giới
Ông A và ông B tranh chấp ranh giới hai thửa đất liền kề. Ông A yêu cầu Văn phòng đăng ký đất đai cung cấp trích lục bản đồ địa chính để xác định đường ranh giới theo hồ sơ địa chính.
Căn cứ Điều 24 Luật Đất đai 2024, công dân được tiếp cận thông tin đất đai. Kết quả đo đạc, lập bản đồ địa chính và hồ sơ địa chính thuộc nhóm "các thông tin đất đai khác theo quy định của pháp luật" tại điểm i khoản 1 Điều 24. Trích lục bản đồ địa chính là bản sao thông tin từ hồ sơ địa chính, nên ông A có quyền đề nghị cung cấp.
Khoản 2 Điều 24 dẫn chiếu việc tiếp cận thông tin đất đai thực hiện theo Luật Đất đai 2024, pháp luật về tiếp cận thông tin và quy định khác có liên quan. Theo đó, trình tự, thủ tục, hình thức và thẩm quyền cung cấp thông tin được áp dụng theo pháp luật về tiếp cận thông tin và pháp luật về đất đai.
Thực tiễn áp dụng: ông A nộp văn bản đề nghị cung cấp trích lục bản đồ địa chính tại Văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện, nêu rõ số thửa, tờ bản đồ, mục đích sử dụng là xác định ranh giới. Cơ quan tiếp nhận kiểm tra hồ sơ địa chính, cấp trích lục theo quy định. Trích lục thể hiện hình thể, kích thước, tọa độ mốc giới thửa đất, làm căn cứ đối chiếu với hiện trạng và giải quyết tranh chấp.
Lưu ý: quyền tiếp cận thông tin tại Điều 24 không thay thế thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai. Trích lục bản đồ địa chính là chứng cứ tham khảo; việc xác định ranh giới chính thức vẫn theo trình tự hòa giải, giải quyết tranh chấp hoặc đo đạc lại theo quy định. Trường hợp thông tin thuộc loại không được tiếp cận theo pháp luật về tiếp cận thông tin, cơ quan có quyền từ chối theo khoản 2 Điều 24.
Lưu ý thực tiễn
Điều 24 xác lập quyền tiếp cận thông tin đất đai nhưng việc thực thi phụ thuộc cơ chế công khai của cơ quan nhà nước. Khoản 2 dẫn chiếu Luật Tiếp cận thông tin, theo đó công dân có quyền yêu cầu cung cấp thông tin, cơ quan có nghĩa vụ trả lời trong thời hạn luật định. Thực tiễn cho thấy nhiều địa phương chậm công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (điểm a khoản 1) hoặc bảng giá đất (điểm d khoản 1), gây khó khăn cho người dân khi kiểm tra tính hợp pháp của quyết định thu hồi, bồi thường.
Một số lưu ý: thứ nhất, quyền tiếp cận không đồng nghĩa quyền được cung cấp mọi thông tin; thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật cá nhân được loại trừ theo pháp luật về tiếp cận thông tin. Thứ hai, hình thức tiếp cận đa dạng (trực tiếp, qua cổng thông tin, yêu cầu bằng văn bản), cần xác định đúng đầu mối để tránh bị từ chối không có căn cứ. Thứ ba, người dân nên lưu giữ văn bản yêu cầu và phản hồi làm chứng cứ khiếu nại, khởi kiện.
Kết luận
Điều 24 Luật Đất đai 2024 cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin đất đai thành chín nhóm thông tin trọng yếu, tạo cơ sở pháp lý cho sự minh bạch trong quản lý đất đai. Hiệu quả thực thi đòi hỏi cơ quan nhà nước chủ động công khai, đúng thời hạn, đồng thời công dân chủ động thực hiện quyền theo trình tự pháp luật về tiếp cận thông tin.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm: